Tâm sự đầu năm gởi Huỳnh Thục Vy và các bạn trẻ trong nước
Đăng trong: Tháng Hai 5, 2012 Filed under: Uncategorized Leave a comment »Nhân đọc bài Tâm Sự Đầu Năm của Thục Vy trên dân làm báo gần đây, tôi cảm thấy phấn khởi vì nhận thấy tuổi trẻ Việt Nam ngày càng trưởng thành trong nhận thức. Đây cũng là dịp để tôi bộc bạch đôi lời với các bạn, hy vọng những lời lẻ nông cạn này có thể đến được với các bạn qua internet. Và hy vọng là các bạn có nhả hứng đọc vì đây là những vấn đề khá khô khan đối với nhiều người.
Có lẻ bạn và tôi, tuy chưa quen biết nhau, nhưng chúng ta có cùng một tâm trạng. Đó là những ưu tư của chúng ta về một đất nước, mà hiện nay có vô số các vấn đề không những không được giải quyết mà ngày càng chồng chất hơn.
Chúng ta đều mong muốn đất nước chúng ta bướt ra khỏi sự nghèo đói lạt hậu, và một ngày không xa có thể sánh vai với năm châu. Chúng ta mong muốn cho đồng bào chúng ta, gia đình chúng ta, và cả chính bản thân chúng ta được hạnh phúc hơn, xã hội công bằng hơn.
Nhưng những khác vọng cơ bản đó, đã hơn nữa thế kỷ nay vẫn chưa thể thực hiện được vì có một thế lực làm chướng ngại vật, quyết tâm và hung hăng ngăn cản những khác vọng chính đáng đó.
Chắc các bạn không còn lạ gì, thế lực đó chính là đảng cộng sản Việt Nam. Nó đã cản trở hạnh phúc và sự tiến bộ của dân tộc chúng ta như thế nào ?. Hảy xem xét vấn đề trên nền tản của lý trí và logic. Hảy cùng nhau xem xét những động lực nào giúp cho một dân tộc tiến bộ, và những động lực nào cản trở bước tiến của nó.
Những độc lực tổng thể
Các dân tộc tiến bộ là nhờ vào chính họ, mọi sự giúp đở từ bên ngoài chưa bao giờ là động lực chính. Các động lực chính thúc đẩy một dân tộc thăng tiến gồm :
1 – Tổ chức chính trị và xã hội đặc nền tản trên các giá trị Tự Do và Dân Chủ.
2 – Ứng dụng các phương thức quản lý và xây dựng trên nền tản Khoa Học.
3 – Khuyến khích tinh thần tự giác và trách nhiệm với Quốc Gia và Dân Tộc.
4 – Khuyến khích sự cạnh tranh trong khuôn khổ pháp luật.
Đó là những điều mà đảng cộng sản VN không hề có, và họ áp đặc những quy luật ngược lại. Nói một cách khác họ là động lực phản tiến bộ :
1 - Tổ chức chính trị và xã hội trên căn bản độc tài, độc đoán và độc ác.
2 - Quản lý theo cảm tính, cá nhân, bè phái, vô tổ chức, vô kiến thức.
3 - Khuyến khích tinh thần phục tùng, thụ động, và vô trách nhiệm với cộng đồng xã hội.
4 - Khuyến khích cạnh tranh man rợ phi luật pháp.
Chúng ta hảy cùng xem xét một cách chi tiết hơn những ý tưởng trên :
1 – Tổ chức chính trị và xã hội đặc nền tản trên các giá trị Tự Do và Dân Chủ như một động lực chính thúc đẩy phát triển :
Chính mô thức tổ chức chính quyền và xã hội trên cơ sở của những giá trị tự do và dân chủ đã giúp cho các thông tin, kiến thức, tư tưởng và ý tuởng được tự do trao đổi và chuyển tải. Từ đó giúp cho mọi người có ý thức sâu rộng hơn về mọi vấn đề, có hiểu biết chính xát hơn. Trong khi đó thì kiến thức kích thích sáng tạo và tư duy, dẫn tới hiệu năng quản lý, tổ chức trong sản xuất và quản lý xã hội được tối ưu hóa. Nó cũng đồng thời thúc đẩy ý thức trách nhiệm công dân sâu sắc hơn,
Mô thức Tự Do và Dân Chủ cho phép mọi người có quyền giám sát chính quyền và thể hiện quyền bất đồng quan điểm hoặc các yêu sách của mình. Đó là lý do bắt buộc các chính quyền dân chủ phải giải trình, và tự điều chỉnh các chính sách để phù hợp với nguyện vọng của người dân. Từ đó các chính quyền bắt buộc phải luôn khắc phục, giải quyết tốt các vấn đề và mang lại các giải pháp không ngừng thúc đẩy tiến bộ.
Không có sự GIẢI TRÌNH và TỰ ĐIỀU CHỈNH thì tất cả mọi chính quyền đều sẻ dần mất tính minh bạch, và ngày càng lún sâu vào các sai lầm để cuối cùng dẫn đến sụp đổ.
Tự Điều Chỉnh, là chức năng cần thiết trong mọi hoạt động, nó chỉ thật sự hiệu quả khi nó sửa được hoàn toàn các sai sót hoạc lỗi chính, kể cả lỗi hệ thống. Những sự điều chỉnh có tính chắp vá và mị dân chỉ có chức năng bao che cho các sai lầm.
Đảng cộng sản VN thì hoàn toàn ngược lại. Vì độc đoán và độc tài, họ bắt buộc phải độc ác để thiết lập một trật tự dựa trên sự sợ hải và khủng bố, và để đè bẹp tất cả mọi manh nha đòi nhà nước phải giải trình và điều chỉnh đúc mức và thực chất các chính sách quốc gia. Trong đó một trong các yêu sách chính đáng của toàn dân là được tự do bầu chọn các nhân vật và đảng cầm quyền, thì luôn luôn bị dập tắc. Vì nhu cầu độc quyền thống trị đó mà đảng csVN bắt buộc phải ngăn cản tự do thông tin, và tất cả những quyền tự do khác. Sau hơn nữa thế kỷ áp dụng chính sách ngu dân đó, đảng csVN đã tạo nên một xã hội ngược lại với các xã hội văn minh. Tinh thần tự giác, trách nhiệm vớì xã hội đã hoàn toàn biến mất trong đại bộ phận quần chúng. Nhiều vấn đề trọng yếu bị hiểu lệch lạc, kiến thức và ý tuởng trong quần chúng phổ thông rất nghèo nàn và lạt hậu. Nguy hiểm hơn hết là các giá trị nhân bản bị thay thế bằng các giá trị vật chất, và đồng tiền đã trở thành chuẫn mực duy nhất của sự thành công.
2 – Ứng dụng các phương pháp quản lý và xây dựng trên nền tản khoa học là động lực phát triển
Từ Mỹ đến Đức, đến Nhật, tất cả đều trở thành cường quốc nhờ vào việc phát triển khoa học và kỷ thuật và kèm theo đó là các phương pháp quản lý hiệu quả.
Bất cứ quốc gia nào nếu không có khoa học kỷ thuật, hay mức độ phát triển khoa học kỷ thuật thấp, thì không thể có được sức mạnh về kinh tế, chính trị và quân sự.
Mọi cố gắng sẻ trở nên vô dụng, vì kém hiệu năng và lảng phí nhân vật lực và thời gian.
Đảng csVN mà đa số là những ngưòi không có kiến thức, kể cả những hiểu biết cơ bản. Vì vậy họ tổ chức xã hội không dựa trên khoa học, mà dựa trên cảm tính và các mối tương quan quyền lợi cá nhân và bè phái. Điều đó không những đã phá nát mọi giềng mối của quốc gia, nó còn là một thảm họa khủng khiếp vì nó gây ra sự lãng phí kinh khiếp về trí tuệ, tài nguyên, nhân vật lực, và thời gian quý báu của dân tộc. Dân tộc Việt Nam bị bóc lột đến tận xương tủy và bị bán rẻ làm nô lệ khắp nơi.
Sự quản lý của csVN không những không có gì là khoa học, mà nó còn phản khoa học và tạo ra động lực đẩy dân tộc Việt lui vào bóng tối của sự phá sản toàn diện.
3 – Khuyến khích tinh thần tự giác và trách nhiệm với Quốc Gia và Dân Tộc là độc lực thúc đẩy phát triển
Mọi xã hội phát triển đều nhờ vào ý thức tự giác và trách nhiệm của mỗi công dân để đảm bảo trật tự xã hội và sự đóng góp của mỗi người vào sự thịnh vượng chung của cộng đồng. Đặc trước mỗi nhà một cảnh sát để giám sát việc tôn trọng luật pháp là điều hoàn toàn không thể làm được.
Muốn đạt được điều đó, mọi người phải nhìn thấy được quyền hạn, và quyền lợi của mình trong xã hội. Không được dự phần vào các hoạt động xã hội với các quyền hạn và quyền lợi được thừa hưởng, thì người ta sẻ không có động lực để hành xử có trách nhiệm và tự giác. Lâu dần nó dẫn đến tình trạng mà ai cũng có thể thấy được trong các xã hội được quản lý một cách độc tài. Đó là sự vô trách nhiệm và bất tự giác. Tinh thần đó có lợi cho sự thống trị của thế lực độc tài, nên được các chính quyền độc tài ngầm ủng hộ.
Chính quyền csVN, qua các cuộc đàn áp các tiếng nói có trách nhiệm với cộng đồng, đã khuyến khích một khuynh hướng vô trách nhiệm với đất nước. Việc bắt giam nhạc sĩ Việt Khang gần đây và các nhà yêu nước là một bằng chứng không thể chối cải cho khuynh hướng nói trên. Một chính sách đàn áp có hệ thống và xuyên suốt hơn nữa thế kỷ như vậy, dân tộc nào có thể khán cự lại được sự phân rả ?.
Thiếu tinh thần trách nhiệm và tự giác, xã hội Việt Nam đã trở nên một xã hội vô luật pháp, mà trong đó những quan chức cộng sản là những tấm guơng tiêu biểu cho sự xem thường và bất tín nhiệm vào luật pháp. Qua việc đảng cộng sản VN chống lại việc thiết lập một xã hội pháp trị, nó đã cổ vỏ cho lòng vị kỷ hẹp hòi của tất cả mọi người. Người ta tìm cách để thủ lợi cho bản thân, kể cả ăn cắp tài nguyên quốc gia, biển thủ tài sản quốc gia…thay vì đóng góp vào sự thịnh vượng chung của quốc gia. Khuynh hướng đó thúc đẩy sự phân rả của cấu trúc xã hội, và làm cho quốc gia càng ngày càng nghèo đi, xã hội ngày càng bất công hơn. Nó làm cho những người vững vàng nhất cuối cùng cũng sẻ mất hết niềm tin vào xã hội mình đang sống. Và mất niềm tin là mất tất cả.
4 – Khuyến khích sự cạnh tranh trong khuôn khổ pháp luật là một động lực của phát triển.
Một trong những lý do thúc đẩy phát triễn khác chính là sự cạnh tranh. Những xã hội vắng bóng cạnh tranh, như các bộ lạc trong rừng Amazon, sau mỗi cuộc săn bắn, người ta chia đều cho nhau các phần ăn kiếm được, và như vậy chẳng ai muốn làm gì hơn là kiếm đủ miến ăn.
Vì có sự cạnh tranh giữa mỗi cá nhân trong xã hội, giữa những dân tộc này với dân tộc khác mà người ta luôn cố gắng lao động và sáng tạo để tích lủy tài sản và kiến thức hơn kẻ khác. Từ đó tạo ra sức mạnh, vị thế, tuơng quan lực lượng giữa người với nguời, và giữa các dân tộc với nhau. Dân tộc nào không có tư duy cạnh tranh thì không có động lực phát triễn và bị bỏ lại đàng sau trong buớc tiến của nhân loại. Tuy nhiên mặt trái của nó, là nếu sự cạnh tranh không được điều nghiên bằng pháp luật, nó sẻ dẫn đến sự tàn nhẫn và bất lương.
Một trong các điều chúng ta thấy rỏ là cho đến hiện nay, một số quốc gia vẫn chủ trương cạnh tranh với các quốc gia khác không thông qua luật pháp. Điều đó chỉ có thể dẫn đến đổ vỡ và chiến tranh.
Trong xã hội Việt Nam, thì đảng cs vì không thể, và tự thân là không bao giờ có thể, thiết lập một nền pháp trị minh bạch, nên đã thả nỗi cho một hình thức cạnh tranh rừng rú. Điều đó dẫn đến những toan tính vô nhân tính, bất lương, nhằm mục đích tích lủy của cải và tăng cường, cũng cố địa vị cá nhân bằng bất cứ giá nào, bằng bất cứ thủ đoạn nào. Khuynh hướng đó các quan chức cộng sản dẫn đầu và tạo ra chuẫn mực cho cả xã hội noi theo. Đồng thời xã hội vô luật pháp tạo ra những nhu cầu tích lũy và vơ vét tối đa để phòng thân.
Sự cạnh tranh thay vì đưọc điều nghiên và khuyến khích trong một chính thể dân chủ tự do để thúc đẩy đất nước phát triển liên tục, thì ngược lại duới chế độ cộng sản nó đã trở thành động lực phá nát xã hội và kinh tế quốc gia. Nó làm cho xã hội ngày một băng hoại thêm, và tạo môi trường cho tham nhũng hoành hành và vô phương cứu chữa.
Tóm lại
Để xây dựng, phát triễn và bảo vệ tổ quốc, chúng ta không chỉ cần có lòng yêu nước, mà điều quan trọng không kém là phải có ý thức và trách nhiệm công dân cùng với ý thức cạnh tranh đối với các dân tộc khác trên thế giới, cũng như ý thức về tính cạnh tranh của họ đối với chúng ta.
Những suy tư trên được đưa ra nhằm mục đích đề cập đến khía cạnh thuần lý, phi cảm tính,
về những vần đề hiện nay của đất nước, cùng với một vài cảm nhận nông cạn của người viết về những phương thức phát triển đất nước.
Đó là một cách tiếp cận mà theo thiển ý của tôi, là rất là cần thiết. Vì chúng ta đã nhấn mạnh rất nhiều đến khía cạnh cảm tình và ít đề cập đến cách tiếp cận các vấn đề của đất nước bằng lý trí và ý thức. Việc nhìn về đất nước với cảm tính nhiều hơn là lý trí làm cho chúng ta dể bị lợi dụng bởi các thế lực chính trị mà quyền lợi không có liên quan gì đến dân tộc ta. Việc đề cập đến các vấn đế quốc gia thiên về cảm tính làm cho nhiều người dể bị mù quán và cực đoan.
Và cho dù nhìn về đất nước với một con mắt khách quan nhất, thuần lý nhất thì cũng không thể nào bao che cho một chính quyền độc đoán, độc tài vô dụng và độc ác như cộng sản Việt Nam.
Chúng ta muốn có và cần có Dân Chủ Tự Do, vì chúng ta muốn đất nước phát triển bền vững và thực sự. Vì chúng ta muốn đồng bào chúng ta được sống hạnh phúc hơn, được hưởng sự công bằng và sự tôn trọng nhân phẩm hơn.
Nói một cách ngắn gọn phương thức tổ chức chính trị xã hội trên nền tảng của các giá trị Dân Chủ và Tự Do chính là nguyên lý và động lực phát triển mà hơn bao giờ hết chúng ta cần phải thiết lập một cách gấp rút trên quê hương của chúng ta, trước khi đất nước đã rơi vào tay ngoại xâm trung cộng
Nguyễn Hiếu Học
Paris, ngày 05/02/2012.
Tác hại của bột ngọt
Đăng trong: Tháng Một 8, 2012 Filed under: Uncategorized Leave a comment »TÁC HẠI KHÔN LƯỜNG CỦA BỘT NGỌT THEO – DR.NGUYEN BE – DR.BUI QUOC CHAU – DR TRONG VO
Bột Ngọt Gây Teo Não và Nhiều Bệnh Có Hại
From: “Dr. Nguyen, Be”
Tác Hại của Bột Ngọt
“Làm từ tinh bột và mật mía ư” ???”Product of U.S.A. “Sản phẩm của Hoa Kỳ” nhưng sản xuất và đóng gói ở bên Tàu!
Bột ngọt (hay còn gọi là mì chính, hoặc vị tinh) đều là tên gọi thông dụng của chất monosodium glutamate. Viết tắt là MSG được tổng hợp đầu tiên ở nhật bản năm 1908, cho đến nay đã đạt sản lượng là 400,000 tấn hàng năm và gieo rắc nhiều tai họa khủng khiếp cho người tiêu dùng . Từ năm 1960 người ta đã thấy những triệu chứng không tốt do bột ngọt gây nên, như JW. Olney công bố bột ngọt gây ra những tổn thương não . Một số thông báo khác lại cho biết dùng bột ngọt lâu dài có thể làm giảm tỉ lệ huyết sắc tố, giảm bạch cầu (tức giảm yếu sự đề kháng của cơ thể) v.v… Nhưng mãi cho đến tháng 7 năm 1986 mới có đáp ứng có ý nghĩa đó là “tổ chức hành động chống bột ngọt” gồm có 5 nước: Indonesia, Nam Triều tiên, Thái lan vàMalaysia, được thành lập ở Bangkok và đưa ra “Tuyên ngôn Bangkok” kêu gọi mọi người giảm sản xuất sử dụng bột ngọt trong thực phẩm, cấm dùng bột ngọt trong thức ăn cho trẻ nhỏ, thiếu niên và phụ nữ có thai. Các đề nghị này được lập đi lập lại tại hội nghị đợt thứ 12 của “hội bảo vệ người tiêu dùng thế giới” tổ chức tại Madrid, Tây Ban nha. Các nhà y tế “Hội chống bột ngọt” đã thống nhất kết luận được nhiều triệu trứng do bột ngọt gây ra: nhức đầu, mệt mỏi, hồi hộp và cảm giác cháy bỏng, đồng thời bột ngọt còn gây ra bệnh suyển, khó thở, và nhiều nguy hại đến các tế bào thần kinh. Các thí nghiệm trên chuột, bò và khỉ cho uống bột ngọt cho thấy bột ngọt dùng liều cao đã phá hủy các tế bào thần kinh của những sinh vật này.===
Tác hại khôn lường của bột ngọt
BS Bùi Quốc Châu
Một lần nọ, một anh bạn nhăn nhó đến tìm tôi khai bệnh:
“Hôm qua, đang đi đường mà làm như tôi bị trúng gió. Người đổ mồ hôi lạnh, nặng đầu, chân tay bủn rủn, tim đập nhanh, về nhà đo huyết áp thì thấy tăng đột ngột.”
Tôi hỏi liền là có phải anh ăn sáng là món phở phải không, anh ngạc nhiên gật đầu, còn nói:
“Ăn xong tô phở chừng 15 phút thì tôi bị trúng gió như vậy đó.”
Tôi cười, lắc đầu:
“Không phải trúng gió mà anh bị ngộ độc bột ngọt!”
Có người bạn thường bị đau lưng, tôi hỏi có phải bạn thường xuyên hay ăn phở? Bạn tôi xác nhận là có. Tôi khuyên hãy bớt ăn phở. Bạn nghe lời tôi, quả nhiên không còn đau lưng nữa.
Quả thật có nhiều bệnh liên quan đến thức ăn có bỏ nhiều bột ngọt, không phải chỉ có món phở mà kết tội nó. Vì nó không có tội gì. Chỉ đáng than phiền là các người bán ham lời nhiều hoặc chiều theo khẩu vị của người ăn mà bỏ nhiều bột ngọt, nên mới gây ra nhiều bệnh cho người ăn.
Gần đây, qua báo chí, được biết là số người bị huyết áp cao và tai biến mạch máu não ở Việt Nam đã gia tăng một cách đáng ngạc nhiên, nhất là tại các vùng đô thị, mà không rõ nguyên nhân tại sao. Về phần tôi, sau một thời gian, nghiên cứu, tôi khăng định rằng một trong những nguyên nhân chính gây ra tình trạng nói trên chính là do bột ngọt.
Bột ngọt hay còn gọi là mì chính, là một nhóm gia vị rất quen thuộc, được người Việt mình dùng nhiều, nhưng cho đến nay vẫn chưa thấy có tài liệu chính thức nào của các ngành hữu quan công bố về những tác hại của bột ngọt. Tôi chỉ tìm được trong tủ sách gia đình một cuốn sách cũ do nhà xuất bản y học in ở Hà Nội năm 1977 tựa là “vệ sinh dinh dưỡng và vệ sinh thực phẩm”, đã có viết một câu nhưng rất chung chung: “Một số thông báo nói đến tác dụng sinh học không tốt của mì chính do đó đã đề nghị sử dụng nó một cách hạn chế”.
Bột ngọt là muối mononatri của acid glutamic, còn gọi là sodium glutamate. Khi cho vào thực phẩm, bột ngọt làm tăng các mùi vị tự nhiên, đồng thời phục hồi một số đặc tính của thực phẩm đã bị giảm trong quá trình bảo quản. Tuy nhiên, khi chúng ta cảm thấy vị của thức ăn có cho bột ngọt có vẻ ngon hơn thì chẳng qua là do bột ngọt đã kích thích thần kinh vị giác. Đó chỉ là vị ngon ngọt giả tạo còn vị ngon ngọt thực chất của thực phẩm thì đã bị phai lạt, mất mát trong quá trình thu hoạch, pha lọc, cất giữ …rồi.
Tôi đã không thể an tâm khi đọc hàng chữ “Làm từ nguyên liệu thiên nhiên” (?) trên bao bì của một hiệu bột ngọt rất nổi tiếng. Các nước phương Tây từ lâu đã nêu lên “hội chứng nhà hàng Tàu” (Chinese restaurant syndrome), biểu hiện rõ nhất là chứng nhức đầu, mà người bạn ăn phở của tôi đã nhiễm phải một cách khá đầy đủ ơr trên.
Ai cũng biết đối với đại đa số các nhà hàng, hiệu ăn,bột ngọt luôn là chất chủ lực để làm cho vị món ăn dọn ra thật hấp dẫn. Nguy hơn nữa là trường hợp người nấu cho thêm cả muỗng bột ngọt còn nguyên hột vào tô phở cho “đậm đà”!
Chắc là người dân ngoài Bắc thích dùng mì chính hơn người ở trong Nam vì có lần tại Hà Nội, khi tôi từ chối và hỏi lý do về cái muỗng súp bột ngọt cho thêm kia thì được đáp rằng: “Nhiều người thích ăn như thế”!….
Cả trong bột nêm (người miền Bắc hay dùng hơn), bột canh… cũng có nhiều bột ngọt.
Kinh nghiệm bản thân, gia đình và bạn bè, cùng với kinh nghiệm chữa bệnh gần 30 năm đã cho tôi phát hiện là bột ngọt thường gây nên những triệu chứng tê môi, nhức đầu và làm tăng huyết áp nội trong ngày có ăn nhiều bột ngọt, chậm lắm là qua ngày hôm sau. Phát hiện nữa là những người ăn phở từ nhỏ, ăn phở thường xuyên, là mắc chứng cao huyết áp. (Nghe ai khai bệnh cao huyết áp cỡ 190 -200, tôi hỏi ngay về sở thích ăn phở thì thường là đúng phóc).
Phở là món ngon quốc hồn quốc tuý, một thời kỳ chính tôi cũng khoái, nhưng nhìn kỹ lại xem, trong nước dùng có gì? Đầu tiên là xương bò (hay trâu), rồi tuỳ theo ý của chủ tiệm mà còn có thêm nhiều thứ ngoài bột ngọt như gừng, đinh hương, hồi hồi, thảo quả, khô mực, vỏ quýt… Một số tiệm còn thêm củ cải đỏ, củ cải trắng nhưng khi hầm quá lâu như thế thì có thể sinh độc. Đáng lưu ý là phần mỡ bò sẽ gây cho người ăn chứng khó tiêu, chứng cholesterol cao trong máu, nhất là đối với ai thích phở gầu, phở chin béo, phở chin mỡ có thêm tuỷ bò! Người đang trị bệnh cao huyết áp với thuốc Tây đã thấy là thuốc cứ uống nhưng huyết áp vẫn không xuống một khi vẫn còn ăn phở mỗi ngày, nghĩa là bệnh không thể giảm, lờn thuốc, có khi còn xảy ra tai biến đe doạ tính mạng. Tình hình quán, tiệm mở ra vơí vô số món ăn khác như bún bò, hủ tiếu, canh miến, bún riêu, lẩu, mì Quảng .v.v…, mà nét chung là chứa nhiều bột ngọt, do óc hám lợi của người chủ tiệm, gây độc tố cho người ăn. Do đó,những người có thói quen hay hoàn cảnh phải thường ăn hàng quán nhiều, ăn nhậu nhiều thì hay mắc phải đủ thứ bệnh, điển hình là 5 bệnh: gan, bao tử, huyết áp, tim mạch và đường ruột mà chủ yếu là bệnh cao huyết áp do bột ngọt gây ra.
Tình trạng ngộ độc, hay dị ứng, tức là phản ứng của gan đối với bột ngọt, xảy ra còn tuỳ vào tình trạng cơ thể, cơ địa con người. Có người bải hoải, mệt lả, bủn rủn chân tay, có người nhức đầu, đau lưng, đau vai, có người tê môi, có người tim đập mạnh và huyết áp tăng liền…Nói chung là những phản ứng hết sức bất lợi cho sức khỏe.
Bột ngọt có tác hại như thế, không biết ngành y tế có biết hay không mà có điều lạ là hiện nay, nhiều hiệu bột ngọt vẫn cứ được phép quảng cáo rầm trời ở Việt Nam như Ajinomoto, Vedan…?
Có người đi Nhật Bản về cho biết là mặc dù nước Nhật là nước hàng đầu về sản xuất bột ngọt nhưng dân Nhật xài rất ít bột ngọt nghĩa là rất hạn chế. Có lẽ họ sợ, biết tai hại của nó nên ít dùng? Vậy mà tại nước ta không hề có thông báo, văn bản chính thức nào của cơ quan y tế Nhà Nước phân tích về tác hại cũng như hướng dẫn sử dụng bột ngọt. !!!.
Tôi có liên hệ trung tâm dinh dưỡng thành phố HCM để hỏi tài liệu về bột ngọt, nhưng tiếc thay ở đây cũng không có tài liệu về tác hại của bột ngọt đối với sức khoẻ của nhân dân! Thật không thê tửơng tượng được!. Theo tôi, trước một con số rất lớn gia đình người mình (ước tính có thể đến 70 – 80%) dùng bột ngọt hằng ngày, các cơ quan y tế nhà Nước cần có ngay những thông báo rộng rãi qua báo đài, qua mạng lưới thầy thuốc chữa bệnh Đông, Tây y cho đại chúng, cho bệnh nhân được rõ tai hại của bột ngọt (giống như thông báo về tai hại của thuốc lá).Phải quan tâm nhất là thành phần bà con lao động nghèo, đã vì không đủ khả năng mua thịt nhiều, cá làm thức ăn hằng ngày nên cứ cho nhiều bột ngọt vào cho dễ ăn qua bữa, nên càng chịu độc của bột ngọt nhiều hơn ai hết.
Tôi thấy có hiện tượng tỉ lệ thuận giữa bệnh tật của dân chúng hiện nay với tình trạng ăn uống ở hàng quán.
Do đó một mặt chúng ta nên từ chối hay miễn cưỡng lắm là hạn chế tối đa bột ngọt, chịu kém ngon một chút mà giữ được sức khoẻ,
Mặt khác phải củng cố bếp ăn bằng cách:
- Bảo quản thực phẩm tươi sống thật tốt để giữ được khá đầy đủ hương vị tự nhiên. Thực phẩm càng tươi càng còn nhiều acid glutamid tức mùi vị đặc trưng càng rõ.
- Phân bố thực phẩm tươi sít sao, nấu nướng nhanh gọn cho từng bữa ăn, tránh tình trạng thức ăn bị cất giữ quá lâu mà biến chất, mất tươi ngon.
- Thay thế bột ngọt bằng những thứ khác không hại mà vẫn tạo vị ngọt như củ cải trắng, củ cải đỏ, các loại xương, mướp, su su…
Vấn đề là khéo chế biến thức ăn cho ngon thôi! Dứt khoát phải xa lìa bột ngọt dù chưa bịnh (hay đã bịnh vì nó). Và phải bắt đầu từ bếp ăn gia đình, vì ăn uống tiệm quán ngoài đường không phải là chuyện thường xuyên của tất cả chúng ta. Ăn cơm nhà mới là sinh hoạt căn bản hằng ngày của đại đa số. Cho nên nguy cơ bột ngọt phải trừ khử ngay tại gia đình. Mà ông bà mình từ xưa cũng đâu có bột ngọt!. Không dùng bột ngọt từ dân dã cho đến chốn cung đình, nhiều món ăn Việt Nam vẫn được chế biến tuyệt vời, nổi tiếng trong ngành ẩm thực quốc tế!
Tôi biết có nhiều người nói rằng mỗi ngày chỉ nêm có một chút, chỉ ăn có một chút bột ngọt thì có gì đâu mà ầm ĩ? Các bạn ấy đã quên rằng mỗi ngày một chút nhưng nhiều ngày, nhiều tháng, nhiều năm trôi qua thì ít cũng thành nhiều, bột ngọt tích luỹ trong cơ thể và hiển nhiên tác hại thầm lặng.
Tương tự như thế, chất hàn the (borax) có công dụng làm cho thực phẩm dòn, dai nên được cho vào trong vô số món ăn ngoài đường như gỏi, củ kiệu, chả lụa, hủ tiếu mì…. cũng độc hại về lâu dài.
Cặp “sát thủ” bột ngọt – hàn the cũng đâu tha cho kẻ tu hành ăn chay.Sống thanh tịnh, ăn giản dị thì đáng lý sức khoẻ của những đệ tử Phật môn phải tốt, phải rất ít bệnh tật, đàng này thì gần như đây, số hoà thượng, sa di, ni sư, ni cô đến khám, chữa bệnh tại trung tâm của chúng tôi lại ngày càng nhiều hơn, chủ yếu cũng là các bệnh về huyết áp, gan, bao tử. Tìm hiểu, suy nghĩ mãi tôi mới ngộ ra là nguyên nhân chính gây bệnh cho các thầy cô không gì khác hơn là những món ăn chay chế biến, đóng gói sẵn của Đài Loan, Trung Quốc đã được ồ ạt nhập về trong mấy năm gần đây. Và bột ngọt không hề vắng mặt trong những gói tôm chay, bò viên chay…, với nguyên liệu rau, củ, hủ ki, bột mì chay lạt như thế, để tạo vị ngon ngọt. Do đó, vì bột ngọt mà người ăn chay đã bị bệnh không kém gì người ăn mặn.
Trong tình hình như đã nói là chưa có một tiếng nói chính thức nào của chính quyền hay ngành chức năng về tác hại của bột ngọt đối với sức khoẻ nhân dân, bài viết này của tôi có tính cách là một thông báo, cũng là lời cảnh báo về bột ngọt.
Mọi người dân đều có quyền được cung cấp thông tin cần thiết cho sức khoẻ để khỏi rơi vào tình trạng sinh mạng bị đe doạ bởi sự thiếu hiểu biết.
Với trách nhiệm và lương tâm của người thầy thuốc, thấy cái gì rõ ràng có hại cho sức khoẻ của bà con bệnh nhân thì phải lên tiếng. Tôi mong mỏi được mọi người quan tâm và có ý kiến đóng góp, xây dựng, cùng chọn ra cách tốt nhất để giải quyết vấn đề này./.
Bột Ngọt Gây Teo Não và Nhiều Bệnh Có Hại
Dr. Trong-Vo
Theo giới quan sát, ở Việt Nam, năm 1996 là mốc phát triển mới của công nghiệp bột ngọt Việt Nam. Tại Hoa Kỳ, sự giàu mạnh của công nghiệp bột ngọt trước đây, đã từng ngăn chặn sự phát hiện ra các tác hại của nó (bột ngọt) đối với sức khỏe con người.
Theo nghiên cứu, nếu ăn nhiều bột ngọt thì trẻ em sẽ bị teo não, lú lẫn! Một nghiên cứu của tiến sĩ tâm thần học Viện Ðại Học California Arthur D. Colman cho thấy, có khoảng 30% dân chúng bị những phản ứng nguy hại, khi ăn phải bột ngọt. Bột ngọt, thực chất là một hóa chất với tên gọi Monosodium Glutamat “MSG”. Ðó là chất muối của acid glutamic, được sử dụng như tác nhân gây vị cho những thức ăn kém vị ngọt. Tuy không phải là một acid amin thiết yếu, nhưng glutamate là một chất quan trọng kích thích hệ thần kinh. Chính vì vậy, đã có một thời, người ta cho bột ngọt là bổ não, có thể chữa được bệnh nhức đầu! Nhưng không phải vậy.
Thực tế, nếu dùng bột ngọt nhiều quá, thì chính glutamate ngoại sinh “dư thừa” này sẽ gây rối loạn hoạt động não, dẫn đến suy thoái não. Chưa kể gan và thận do phải làm việc cật lực để thải hồi độc chất acid amin này, dẫn đến bị suy yếu và gây nhiều rối loạn. Tổ Chức Y Tế Thế Giới “WHO” và Tổ Chức Lương Nông “FAO” của Liên Hiệp Quốc đã nhiều lần khuyến cáo không cho trẻ em dưới 6 tuổi dùng bột ngọt và các thức ăn chế biến có bột ngọt. Ðối với người lớn, tránh dùng chừng nào tốt chừng ấy. Cấm dùng cho phụ nữ có thai.
Ngoài ra, một số tác hại khác của bột ngọt: mập phì, trầm cảm, đái đường ở người có nguy cơ cao, và nhiều loại bệnh tim mạch khác…
Sự hạn chế sản xuất bột ngọt xảy ra khá muộn màng: Năm 1970, Cơ Quan Kiểm Soát Thực Phẩm Hoa Kỳ “FDA” và nhiều quốc gia khác như Pháp, Anh đã chính thức cấm sử dụng bột ngọt cho trẻ em. Tại Pháp hoàn toàn không thể tìm thấy bột ngọt ở bất cứ cửa hàng và siêu thị nào “ngoại trừ tiệm ăn Tàu”. Không thấy có quảng cáo bột ngọt trên các phương tiện truyền thông.Nhưng ở Việt Nam , bột ngọt lại đang ‘bành trướng’. Từ sản xuất và mức tiêu thụ 8,000 tấn năm 1980, đến năm 1994 đã tăng lên gấp 10 lần. Đến năm 2005 đã tăng lên khoảng 100,000 tấn. Hiện cả nước có 5 cơ sở sản xuất bột ngọt có vốn đầu tư nước ngoài với tổng cộng công suất hơn 200,000 tấn/năm. Chưa kể hàng trăm tấn bột ngọt khác đã và đang được Bộ Thương Mại Việt Nam cấp quota nhập và được chuyển lậu từ biên giới vào Việt Nam . Ðã có ý kiến báo động:’Việt Nam đang trở thành ‘bãi thải’ bột ngọt’ của thế giới. (theo tài liệu nghiên cứu của tiến sĩ Phạm Văn Tất). Từ cuối năm 2000, chính phủ Việt Nam đã có thông báo ‘không khuyến khích đầu tư sản xuất bột ngọt’. Nhưng, sản xuất vẫn đang vượt cầu. Chưa ai nghĩ đến chuyện hạn chế quảng cáo bột ngọt. Chính những chiến dịch quảng cáo rầm rộ, phân phối bột ngọt đã và đang làm dân chúng ngộ nhận bột ngọt như là một món phụ gia cần thiết, trị cả bệnh nhức đầu và đau răng! Tiến sĩ Arthur D. Cilman, giáo sư lâm sàng khoa tâm thần Viện Ðại Học California tâm sự: ‘Tôi đã viết một bài về tác hại của bột ngọt. Ngay lập tức, Hiệp hội bột ngọt đã chi hàng triệu dollars mở chiến dịch báo chí chống lại tôi. Họ đe dọa cắt quảng cáo trên các báo định đăng tiếp bài của tôi! Họ thuê một đồng nghiệp của tôi ở đại học Harvard đến gặp tôi, ngỏ ý tài trợ để tôi làm một chương trình nghiên cứu khác, đừng tấn công bột ngọt”. Tây phương thường nói đến ‘Hội chứng nhà hàng Tàu’ (Chinese restaurant syndrome) với các triệu chứng điển hình khi ăn phải các thức ăn có nhiều bột ngọt: nhức đầu, đỏ mặt, đau ngực, sốt và rối loạn tuần hoàn. Người ta cũng ghi nhận ở một số người thường xuyên bị rối loạn như: suyễn, cảm, đau thắt ngực, tê mặt… là do không dung nạp bột ngọt. Vì vậy, càng ít dùng bột ngọt càng tốt. Ðặc biệt là cần tránh tối đa cho trẻ em dưới 6 tuổi không dùng bột ngọt. Cách tốt nhất để bảo vệ sức khỏe cho chính mình và gia đình mình là tuyệt đối không dùng bột ngọt trong thực phẩm hàng ngày.
THỜI CƠ ĐÃ ĐẾN
Đăng trong: Tháng Tám 25, 2011 Filed under: Uncategorized Leave a comment »Quân cách mạng của người dân Libye, đã chiến thắng !
Một lần nữa khác vọng Tự Do và Dân Chủ của người dân đã thắng độc tài. Điều này khẳng định một chân lý, cuộc tranh đấu của bất cứ dân tộc nào chống lại độc tài để dành lấy Tự Do và Dân Chủ đều là chính nghĩa.
Như vậy là sau Tunisie, Ai Cập, giờ đến luợc Libye, các chính quyền độc tài Ả Rập lần lượt sụp đổ. Sau Libye, sẻ đến lượt Syrie và những nước độc tài còn lại thuộc khối Ả Rập lần lượt cáo chung. Quy luật Domino đang cuốn trôi những chính quyền độc tài còn lại trên thế giới. Và số phận của chế độ cộng sản Việt Nam cũng chỉ còn là vấn đề thời gian. Đó là chân lý.
Với những chính quyền dân chủ mới ở Bắc Phi, Mỹ và Âu Châu và Nhật, nói chung là thế giới tự do có trong tay hơn 90% trử lượng dầu hỏa của thế giới. Trung Cộng chắc chắn đang điên tiếc, một chính quyền độc tài sụp đổ là trung cộng mất đi một đồng minh. Vì không còn môi trường để mua chuột và thao túng các chính quyền đó, không còn cơ hội để thu tóm tài nguyên của thế giới cho mục tiêu phát triển của nó. Vòng vây của thế giới tự do dành cho TC đang ngày một xiết chặt. Lệ thuộc về năng lượng là điều mà TC không thể tránh khỏi. Nói một cách khác, đó là tròng vào đầu TC một cái vòng kim cô.
Thế giới tự do, mà Mỹ đứng đầu, đang đi từng bước tiến tới việc giải quyết hiểm họa của nhân loại là trung cộng. TC chắc chắn sẻ phải thất bại trong âm mưu trở thành bá chủ thế giới của nó. Cộng sản VN chọn phe thắng, hay phe thất bại ?. Phe thắng là phe của chính nghĩa, là thế giới tự do. Phe chắc chắn sẻ thất bại là TC, là phe ác, là phe của độc tài.
Theo phe Tự Do, csVN bắt buộc phải thực thi nhân quyền và dân chủ. Vừa bắt tay với phe Tự Do vừa cố giữ lấy chính thể độc tài, là một tính toán sẻ dẫn đến ngỏ cụt cho csVN, một sự lựa chọn hủ lậu nhất, ngu xuẫn nhất, vì đó là lựa chọn cho một kết cuộc thê thảm nhất cho họ và gia đình họ. Kết cuộc của Gaddafi, của Mubarak, của Ben Ali.
Theo trung cộng, thì đã quá muộn, những bước đi ngày càng gần gủi hơn với Mỹ của csVN, không cho phép nó quay trở lại được nữa. TC đã cương quyết đạp vào mặt của những tên nô tài phản chủ là đảng csVN. Đọc lại những giọng điệu của báo chí chính thống TC nhắm vào csVN thì rỏ : nào là « ….con chó VN », nào là « ….phải lấy máu bọn VN tế cờ…. », nào là « … đã đến lúc trung quốc phải xuất đao…. », còn đặng tiểu bình thì gọi bọn csVN là « …bọn côn đồ lưu manh »…
Vậy nên, ai cũng biết là csVN chỉ có thể trông cậy vào thế giới tự do. Nhưng ngặc một nỗi, nếu quay lưng hẳn với TC, thì lở mai này, dân chúng VN nỗi dậy theo kiểu Ba Lan, hay Libye thì csVN biết nhờ ai can thiệp đây ?. Còn bám víu vào TC, là còn hy vọng có một đội quân cảnh sát TC sẳng sàng được gởi qua cứu nguy cho chế độ csVN khi cần. Vì vậy mà csVN vẫn do dự, cù cưa cho đến giờ phút này vẫn chưa giám bướt hẳn sang một phe với Mỹ.
Còn người dân VN thì lẻ tất nhiên là chúng ta chỉ có thể trông cậy vào thế giới tự do. Nhưng điều chính, chắc chắn là phải trông cậy vào năng lực của chính dân tộc mình.
Các điều kiện cho một cuộc cách mạng DÂN CHỦ vậy là đang hội tụ về một điểm. Phía chính quyền độc tài csVN thì điều bắt buột là nới lỏng sự kìm hảm quyền tự do của người dân. Phía người dân thì phong trào quần chúng tư phát, đúng ra đòi hỏi các quyền lợi chính đáng ngày một lên cao và lan rộng. Cộng thêm với sự phát triển và phổ biến của các phương tiện truyền thông đang mang đến từng nhà từng người những giá trị Tự Do, Nhân Quyền, và Dân Chủ, để cho mọi người hiểu được cái mình phải có và đã bị tước đoạt như thế nào. Ánh sáng của TỰ DO DÂN CHỦ đang ngày một lang rộng và tỏa sáng khắp các nẻo đường đất nước, đi đến đâu nó đẩy lùi bóng tối của độc ác, độc tài, lưu manh, và dối trá đến đó. Cái bóng tối của cộng sản, của giáo điều bịp bợp đó đang ngày một bị thu hẹp lại. Và điểm cuối cùng là sự chấm dức toàn bộ của hệ thống độc tài đảng trị. Vần đề còn lại là thời gian và sự chấm dứt sẻ xảy ra như thế nào mà thôi.
Paris ngày 25/08/2011
Nguyễn Hiếu Học
Mỹ – Trung cộng : BẠN hay THÙ ?.
Đăng trong: Tháng Sáu 27, 2011 Filed under: Uncategorized 8 Comments »Đó là hai kẻ thù của nhau. Kết cuộc của sự đối đầu này sẻ quyết định một phần lớn lịch sử của nhân loại trong thế kỷ 21 này.
Tính cách hữu nghị trong ban giao giữa Mỹ và Trung Cộng mà ngưòi ta thường thấy trên các phương tiện truyền thông đại chúng, chỉ là phần nổi của tản băng tuyết. Phần chìm, là phần chính thì trái ngược, nó không có gì là hữu nghị. Nói như những chuyên gia với những quan điểm tương đối dè dặt, thì quan hệ giữa hai quốc gia này sẻ đi đến một cuộc chiến tranh lạnh trong những năm tháng tới đây. Còn một trường phái học giả khác, thì lại cho rằng, có nhiều khả năng là sự xung đột đó sẻ dẩn đến một cuộc chiến tranh bằng quân sự.
Người viết bài này nghĩ rằng, truờng phái thứ hai – giả thuyết cho một cuộc xung đột bằng vũ trang giữa Mỹ và Trung Cộng – đã đưa ra những lập luận từ những nghiên cứu chuyên sâu, rất thuyết phục.
Vậy thực chất của mối quan hệ đó như thế nào ?.
Theo học giả người Pháp François Lenglet thì, sự xung đột giữa hai quốc gia này trải rộng trên 5 mặt trận và đã kéo dài từ hơn 40 năm nay :
1- Mặt trận tiền tệ
2- Mặt trận trên biển
3- Mặt trận trên mạng
4- Mặt trận dầu hỏa
5- Mặt trận giữa hai mô hình (mô hình tổ chức chính trị xã hội).
Chúng ta hảy thử xem xét tiến trình đó theo một trình tự cứ 10 năm là một chu kỳ, như sự sắp đặt của vị học giả trên.
Ngày 2 tháng 3 năm 1969, Trung Cộng bất ngờ phục kích và giết chết hơn 30 quân nhân Liên Xô trên đảo Damanski, một hòn đảo băng giá không người ở và nằm trong vòng tranh chấp giữa Liên Xô và Trung Cộng. Ngay ngày hôm sau những cuộc biểu tình rầm rộ đã được tổ chức ở Moscou. Ở Bắc Kinh, thì bộ máy tuyên truyền tuôn xả những giọng điệu đầy thù nghịch, và kêu gọi người dân Liên Xô nổi dậy lật đổ những « tân Hoàng Đế (tsar) ». Và sự thù nghịch cũng ngày một leo thang, lửa căm thù đã nóng lại càng nóng hơn.
Tổng thống mỹ Richard Nixon, lúc đó đã nắm lấy cơ hội. Cũng thời điểm đó ông ta đang công du Châu Âu. Sau một ngày trời hội luận với tổng thống Pháp Charles de Gaulle tại điện Versailles. De Gaulle cho ông ta biết rằng « Phía Liên Xô đang tính đến một cuộc chiến với Trung Cộng », đồng thời khuyên Nixon « rút quân Mỹ khỏi VN », và « bắt tay với Trung Cộng ».
Đó cũng là ý định của Nixon, và chính quyền Mỹ : « rút quân khỏi Việt Nam một cách ít tốn kém nhất. Bắt tay với Trung Cộng hoặc Liên Xô để chia rẻ và làm suy yếu khối cộng sản ».
Quyết định ban đầu của Nixon và Kissinger là bắt tay với Liên Xô. Patrick Tyler (trong tài liệu A Great Wall, PublicAffaires 2000) viết, lúc ấy cố vấn của Nixon là Kissinger viết báo cáo cho Nixon có đoạn ghi « Quyết tâm mỗi ngày một lớn của Moscou trên vấn đề Trung cộng, và sự cần thiết rút ra những lợi thế trong việc hợp tác với Moscou ». Nixon phê chuẩn bên lề của bản báo cáo « Đó chính là mục đích của chúng ta ».
Ngay sau đó, Nixon đã cho tiến hành một nghiên cứu tối mật, về một cuộc tấn công bằng nguyên tử của Mỹ lên nước tàu (Vẫn theo Patrick Tyler).
Một mặt thì tìm cách hợp tác với Moscou, một mặt thì lạì tỏ tín hiệu muốn xích lại gần với Trung Cộng. Chính quyền Mỹ lúc đó tính toán rằng, làm như vậy, Moscou sẻ phải lo ngại và xuống nước phần nào để cuối cùng ảnh huởng đến Hà Nội, và đi đến một giải pháp mà người Mỹ mong muốn ở Việt Nam.
Nhưng Moscou vẫn khăng khăng từ chối những tín hiệu hòa hoản của Washington gởi đến họ.
Nguợc lại, họ còn tăng viện cho Hà Nội bằng những chuyến tàu lữa ồ ạt chở vũ khí từ Liên Xô đến VN, đi ngang qua lãnh thổ Trung Cộng.
Moscou tỏ ra không muốn lọt vào trò chơi của Mỹ nên đã chủ động hòa giải với Trung Cộng với mong muốn hàn gắn vết nức giữa hai nước cộng sản. Kossyguine, thủ tướng Liên Xô thời bấy giờ, bèn nhất điện thoại gọi trực tiếp cho Mao. Bên kia đầu giây, nhân viên của Mao bắt máy, khi biết đưọc nguời gọi là ai, liền mắng ông ta là đồ phản cách mạng, rồi từ chối chuyển qua cho Mao.
Ngày 3 tháng 9 năm 1969, Hồ Chí Minh chết, cả thế giới cộng sản đua nhau đến Hà Nội để dự đám tang. Kossyguine lại một lần nửa tiềm cách nói chuyện trực tiếp với Chu Ân Lai ở Hà Nội, nhưng họ Chu tìm cớ từ chối không gặp. Kossyguine giả vờ quay về Moscou, nhưng CIA theo giỏi và phát hiện đường bay của ông ta có điều lạ. Chuyến bay thay vì về Moscou thì lại ghé Douchanbé, rồi bay thẳng đến Bắc Kinh. Cuối cùng thì Kossyguine cũng gặp được Chu Ân Lai ở phi trường, nhưng cuộc nói chuyện đã biến thành một cuộc khẩu chiến.
« Chủ tịch Mao nhận định rằng sự mâu thuẫn giữa chúng ta sẻ kéo dài mười ngàn năm ». Lời của họ Chu nói với thủ tướng Liên Xô. Đáp lại, Kossyguine đã đe dọa thẳng vào chính quyền Bắc Kinh.
Vài ngày sau, một mật vụ của Liên Xô ở Luân Đôn, tên là Victor Louis, tung ra một bài báo nói thẳng về kế họach tiêu diệt các cở sở hạt nhân của Trung Cộng ở Tân Cương, đồng thời cũng cho rằng nhân dân Trung Quốc đã bắt đầu nổi dậy lật đổ Mao, và Liên Xô sẳn sàng can thiệp để tiếp tay vớì người dân Trung Quốc. Tái thực hiện một chiến dịch như ở Prague, đó là ý định của Brejnev.
Mao và cả Trung Quốc hoảng sợ đã cho dời xa các công xuởng chiến lượt đến sa mạc Quinhai, đồng thời cho xây dựng cả một thành phố duới lòng đất, với đủ các thiết bị cần thiết cho cuộc sống trú ẩn. Để phản công, Mao gởi tín hiệu cho Moscou, bằng cách cho nổ hai quả bom nguyên tử trong sa mạc Trung Quốc. Theo Patrick Tyler, « Như truyền thống của người tàu, Mao đã xuất chiêu mà không cần phải động đến một binh lính ».
Cơ hội đã lộ rỏ cho phía Mỹ, thế là Nixon và Kissinger bắt đầu quan tâm đến « lá bài Trung Cộng ». Sau này Kissinger thổ lộ « trong tình huống xấu nhất, phải cân bằng quan hệ với cả Trung Cộng lẫn Liên Xô », đồng thời tiếp tay cho bọn họ thù hằn cắn xé lẫn nhau. Ông ta nói « chúng tôi muốn uống cả rựu Đại mao (maotai) và cả Vodka.
Trái lại với phản ứng của Liên Xô trước bàn tay chìa ra của Mỹ, Trung cộng gởi ngay một tín hiệu đến Washington bày tỏ mong muốn bắt tay với Mỹ. Một ngày đẹp trời, những chuyến tàu lửa chở vủ khí từ Nga về Hà Nội, bị chận lại một cách bí ẩn.
Thế là một vũ điệu dạo đầu giữa Trung Cộng và Mỹ bắt đầu. Bước đầu là những gặp gở giữa hai đội tuyển bóng bàn, rồi những trao đổi cũng không kém phần kịch tính giữa đội tuyển Mỹ với Chu Ân Lai. Rồi những màn trình diễn về sự thân thiện giữa đôi bên…
Xong màn dạo đầu thì đến ngày 9 tháng 7 năm 1971, Kissinger bí mật đến Bắc Kinh. Ngày 17 tháng 2 năm 1972, Nixon và phái đoàn Mỹ chính thức thăm Bắc Kinh. Một tuần trăng mật đầy kịch tính cũng đưọc đôi bên trình bày cho nhau xem.
Và theo sau, là những thỏa thuận giữa đôi bên. Mỹ làm quà cho Trung Cộng bằng những hồ sơ tối mật về thực lực của quân đội Liên Xô, chấp nhận nhuợng bộ những đòi hỏi của Trung Cộng trên hồ sơ Đài Loan, mở phòng đại diện ở hai nước nhằm tái lập lại những trao đổi thưong mại Mỹ-Trung. Đổi lại Trung Cộng sẻ áp lực Hà Nội ngồi vào bàn hội nghị cho một hiệp định đình chiến. Tháng 1 năm 1973, Kissinger và Lê Đức Thọ đặt bút ký hiệp định đình chiến ở Paris. Lá bài Trung Cộng đã giúp Mỹ đạt được hai mục đích, chia rẻ khối cộng sản, rút quân khỏi Việt Nam một cách êm thắm. Năm ấy (1973) tuần báo Time bầu Nixon là « Nhân Vật trong năm ». Tháng 11 năm ấy, Nixon tái đắc cử một nhiệm kỳ nửa.
Vũ điệu « tình hữu nghị Mỹ-Trung » chưa kéo dài được bao lâu trên vũ đài chính trị quốc tế thì các diễn viên chính đột ngột ra đi. Ngày 08 tháng 08 năm 1974, Nixon từ chức sau vụ tai tiếng Watergate. Tháng 01 năm 1976, Chu Ân Lai chết. Ngày 08 tháng 9 cùng năm, Mao cũng đi theo.
Từ cái chết của Mao, tháng 09 năm 1976 đến cuối năm 1978, nội bộ Trung Cộng thanh toán lẫn nhau để tranh dành quyền lực. Phe « Tứ Nhân Ban » cuối cùng bị thanh toán, vợ cả của Mao, và ba nhân vật cao cấp khác cùng nhiều đồng sự bị tử hình. Đặng Tiểu Bình chính thức trở thành tổng bí thư đảng cộng sản Trung Quốc, ngày 13 tháng 09 năm 1978.
Từ năm 1979 đến cuối năm 1980, họ Đặng gặt hái được nhiều thành quả trong việc tiếp tục cải thiện quan hệ và đẩy mạnh thương mại với chính quyền Carter (Jimmy Carter được bầu làm tổng thống Mỹ tháng 11 năm 1976).
Năm 1979 cũng là năm mà Liên Xô bành trướng mạnh ảnh hưởng của mình ở Trung Đông, chuẫn bị can thiệp vào Afghanistan, ngấm ngầm tiếp tay cho cuộc lật đổ quốc vương Shah, một chính quyền thân Mỹ ở Iran.
Tháng 01 năm 1979, họ Đặng đến Mỹ. Đặng và Carter bày tỏ mối lo ngại chung trước sự bành trướng đang lên của Liên Xô . Sau cuộc gặp gở đó, một thoả thuận đôi bên cùng có lợi được thông qua. Trung Cộng chấp nhận cho Mỹ đặt một hệ thống nghe lén để theo dỏi Liên Xô ở phía tây Trung Quốc, dự án « Chestnut ». Đổi lại Mỹ sẻ để yên cho Trung Cộng đánh Việt Nam.
Ngày 17 tháng 02 năm 1979, Bắc Kinh xua 100 000 quân tiến đánh Việt Nam, để gọi là « dạy cho Hà Nội một bài học ».
1969-1979, Đó là mười năm gặt hái được nhiều thành quả cho Trung Cộng, trong chủ trương ban giao với Mỹ của Mao và Đặng. Đó cũng là 10 năm mà Mỹ sử dụng con bài Trung Cộng để đối phó với Moscou. Bấy giờ Moscou mới là đối thủ chính của Mỹ. Dùng quân chốt (tàu) của kẻ địch (Liên Xô) để đánh địch. Các tay lãnh đạo của Mỹ thật là cao kiến. Trung cộng hưỏng lợi đưọc một, Mỹ được mười.
Cái mối ban giao theo lối bạn hàng, đôi bên cùng có lợi, « tiền trao thì cháo múc » chỉ là một giao đoạn. Khi nhu cầu lợi dụng nhau không còn, thì cũng là lúc hợp đồng chấm dức. Quan hệ Mỹ-Trung bắt đầu xấu trở lại từ đây.
Tháng 11 năm 1980, Ronald Reagan được bầu làm tổng thống Mỹ. Một toán quan chức cao cấp của Trung Cộng đến Mỹ, dưới sự dẫn dắt của Alexander Haig (secrétaire d’état), ngưòi vẫn chủ trương sử dụng lá bài Trung Cộng để đối phó Liên Xô. Khi đến tòa Bạch Ốc, thì nhóm người này đã bị tổng thống Mỹ từ chối không gặp.
Khi đó Reagan đóng sầm cửa phòng làm việc lại và nói « Tôi biết quá rỏ cái bọn điếm đàng này » (« je saivais bien que ce sont tous des fils de pute ») theo Patrick Tyler.
Năm sau những hợp đồng bán vũ khí cho Đài Loan được nối lại, sau khi đã bị gián đoạn dưới nhiệm kỳ của Nixon và Carter.
Sau cái chết của Brejnev, hiểm họa Liên Xô đối với Mỹ và thế giới tự do, kể cả đối với tàu cũng giảm dần. Chính quyền Trung Cộng quyết định tập trung cải cách kinh tế. Nhiều chính sách được thực hiện nhằm chiêu dụ các công ty nước ngoài đến Trung Cộng đầu tư. Năm 1984, đầu từ ngoại quốc trực tiếp vào Trung Cộng đạt 1.3 tỷ USD. Con số không lớn, nhưng thời bấy giờ nó là động lực cho sự cất cánh của nền kinh tế Trung Cộng. Từ 1984 đến 1988, mức bình quân đầu người của Trung Cộng (PIB) phát triển khoảng 15% một năm. Nhưng lạm phát thì cũng gần như tương đương, giá các mặt hàng tiêu dùng tăng 14% vào năm 1987. Trung Cộng phải đối mặt với một vấn đề, làm thế nào để tăng trưởng không quá cao để kìm hảm bớt lạm phát ?, nhưng cũng phải tăng trưởng mạnh để phát triển nước tàu, tăng thêm công ăn việc làm. Sự cân bằng đó lại tùy thuộc vào mối tương quan lực lượng giữa phe bảo thủ và phe cấp tiến của tàu.
Năm 1988, lạm phát Trung Cộng lên đến 18,5%. Ngày 15 tháng 4 năm 1989, Hu Yaobang qua đời vì bệnh tim. Thanh niên, sinh viên Trung Cộng bắt đầu tập trung ở Thiên An Môn với lý do là để vinh danh một nhân vật được xem là cấp tiến vừa qua đời. Ngày 22 tháng 4, Đặng Tiểu Bình ra lệnh cấm tụ tập ở quảng trường ấy. Khi đó những người biểu tình vẫn bất chấp lệnh cấm và tiếp tục tụ tập đến khoảng 100 000 người. Cuộc biểu tình vì tự do dân chủ kéo dài hơn một tháng. Ngày 4 tháng 6 năm 1989, Đặng Tiểu Bình cho quân đội dùng xe tăng thiết giáp tiến vào đàn áp cuộc biểu tình. Có từ 1500 đến 2500 người bị giết, theo tài liệu của tình báo Mỹ. Tòa đại sứ Mỹ bị quân giải phóng Trung Cộng nả đạn. Tòa Bạch Ốc chuẫn bị dời 10 000 người Mỹ khỏi Trung Quốc.
Quốc hội Mỹ yêu cầu Bush chấm dức quan hệ ngoại giao và trừng phạt kinh tế Trung Cộng. Nixon, gọi điện gấp cho Bush và khuyên ông ta nên tính toán đường dài. Cuối cùng thì tổng thống Mỹ chỉ dừng lại ở một trừng phạt giới hạn : Ngừng bán vũ khí cho Trung Cộng, ngưng các chuyến thăm chính thức giữa hai bên.
Thiên An Môn đã nhắc nhở chính giới Hoa Kỳ về bộ mặt thật của Trung Cộng. Nó khẳng định thêm một lần nữa về tính chất chống nhân loại của các chế độ cộng sản trên tòan thế giới.
Năm 1989, Cộng Sản Ba Lan rồi đến bức tường Bá Linh sụp đổ, khối cộng sản tan rả. Phát triển kinh tế Trung Cộng rơi xuống mức 4.1% năm ấy. Năm sau tiếp tục giảm xuống 3.8%. Chấm dức một chu kỳ 10 năm trong quan hệ Trung-Mỹ.
1979-1989, Mười năm làm nền tảng cho sự cất cánh của nền kinh tế Trung Cộng. Mười năm của sự xét lại trong quan hệ của Mỹ đối với Trung Cộng. Nhưng Liên Xô vẫn còn đó, nên Mỹ cũng phải miễn cưỡng mà tiếp tục mối ban giao với con bài Trung Cộng.
Kể từ đây mọi việc bắt đầu xoay chiều trong mối ban giao Mỹ-Trung.
Thành quả trong việc giao tiếp với Mỹ, xử dụng nguồn vốn, kỷ thuật của Mỹ và Tây Phương, đã mang lại cho Trung Quốc một mức tăng truởng 15% năm 1992. Đầu tư nước ngoài vào Trung Cộng đạt đến 100 tỷ USD năm 1993. Tự tin với sự trổi dậy mới mẻ của mình, Bắc Kinh bắt đầu phô trương sức mạnh của mình trong vùng. Lòng kiêu ngạo của người tàu bắt đầu hồi sinh.
Nhu cầu dùng Trung Cộng chống Liên Xô của Mỹ không còn, cùng lúc với hiểm họa Trung Cộng cũng bắt đầu ló dạng. Chính sách đối ngoại của Mỹ kể từ đây sẻ đặt biệt quan tâm đến Trung Cộng. Nó đặt Trung Cộng như là đối thủ nguy hiểm nhất mà Mỹ sẻ phải đối đầu trong tương lai. Trong lần ứng cử tổng thống năm 1992, Bill Clinton tuyên bố sẻ không bắt tay với những đao phủ của Thiên An Môn.
Nhưng ở Mỹ, khi cái đầu nói « không », và bao tử thì nói « có » thì cũng khó cho cái đầu để nói « không ». Mặt dù chính quyền và quốc hội Hoa Kỳ thì đả điểm mặt chỉ tên Trung Cộng, nhưng giới lobbie thì vẫn gây áp lực lên chính truờng Mỹ vì muốn bảo vệ quyền lợi kinh tế của họ trong việc làm ăn với Trung Cộng. Gọi là làm ăn, nhưng thực chất chính quyền Trung Cộng bán dân làm nô lệ, giới tài phiệt Âu Mỹ mua nhân công giá bèo. Cứ như thế mà « Tối huệ quốc » cứ được Mỹ gia hạn cho Trung Cộng thêm mỗi năm một lần. Như câu chuyện Ngàn Lẻ Một Đêm, cứ mỗi lần quốc vưong Shahryar muốn chém đầu nàng Shéhérazade, thì nàng lại kể cho ông ta nghe một câu chuyện mới đầy thú vị, và lần xử chém lại được dời lại ngày hôm sau. Nhưng khổ nổi đối với Trung Cộng, thì Mỹ sẻ chẳng bao giờ chấp nhận hôn nhân vĩnh viễn với Mỹ.
Cái gọi là « hợp tác kinh tế » thực chất cũng chỉ là quan hệ lợi dụng lẫn nhau. Chẳng phải vì một thứ cảm tình gì với Trung Cộng. Điều này được khẳng định bởi chính « US-China Business Council » rằng Clinton thật ra cũng chỉ tạo những điều kiện thuận lợi cho các công ty Mỹ hưởng lợi từ một đội quân nô lệ ba xu bốn hào.
Những giá trị lợi dụng đó chấm dức thì quan hệ chấm dức. Thời điểm đó đang ló dạng trước chân trời chính trị quốc tế.
Năm 1994, Trung Cộng phá giá đồng Nhân dân tệ đến 50% so với đồng USD. Trên mặt ngoại giao, quan hệ Mỹ-Trung bắt đầu xấu đi nhanh chóng. CIA Mỹ nhận được thông tin, một chiếc tàu của Trung Cộng chuyển đến Iran, gaz mù tạt, một loại hóa chất để chế tạo vũ khí hóa học. Hải quân Mỹ chận ngay chiếc tàu đó trên Ấn độ duơng. Nhưng tàu Trung Quốc từ chối không cho khám xét. Cuối cùng thì chính quyền Trung Cộng cũng phải nhượng bộ và để cho phía Mỹ lục xoát chiếc tàu khi nó cập bến Ả rập Sâu Đi (Arabie Saoudite). Nhưng người Mỹ lại không thấy gì trên tàu. Bộ trưởng ngoại giao Trung Cộng lúc đó ra thông cáo phản đối rằng Mỹ xâm phạm chủ quyền quốc gia của họ. Một cuộc khủng hoảng ngoại giao Mỹ-Trung thứ hai dưới thời Clinton là việc tổng thống Đài Loan Lee Tenghui, một người gốc Hakka sinh ra trên đảo quốc này, được chấp thuận cho một chuyến công du đến Mỹ năm 1995, mặt dù Trung Cộng phản đối kịch liệt. Lee Tenhui, một người với chủ trương tuyên bố đập lập cho Đài Loan rất rỏ ràng. Người đã dân chủ hóa Đài Loan và đã thay đổi hiến pháp Đàì Loan để thiết lập việc bầu chọn tổng thống bằng phổ thông đầu phiếu. Bắc Kinh điên tiết vì sự bất lực của mình trước Mỹ, lại còn điên tiết hơn khi biết rằng một năm sau, 1996 sẻ là năm mà người dân Đài Loan trực tiếp bầu tổng thống của họ. Một buớc trong việc tiến tới tự quyết và tuyên bố độc lập của Đài Loan trong mắt Trung Cộng. Bắc Kinh cho tập trận liên tục trên eo biển Đài Loan, cho bắn hỏa tiển đến gần bờ biển của đảo quốc này. Clinton ra lệnh cho các hạm đội Mỹ tiến vào eo biển Đài Loan.
23 tháng 3 năm 1996, Lee Tenghui tái đác cử và tìm cách hạ nhiệt với Trung Cộng. Nhưng quốc hội Hoa Kỳ thì vẫn còn nóng rang. Quốc hội Hoa Kỳ phê chuẩn thêm một lần nữa việc bán vũ khí cho Đài Loan.
Mùa hè năm 1997, khủng hỏan kinh tế nghiêm trọng xảy ra ở Á Châu. Việc phá giá đồng nhân dân tệ của Trung Cộng năm 1994, được đánh giá như một trong những nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng này.
1989-1999, đã khép lại mười năm giằng co giữa « ở » và « đi », trong quan hệ Mỹ-Trung.
Có lẻ cũng là thời gian để cho Mỹ ổn định lại các chính sách của mình sau một thời gian dài chú tâm vào việc đối phó với Liên Xô và khối cộng sản. Đó cũng là thời gian rảnh tay cho Trung Cộng gấp rút phát triển kinh tế, hiện đại hoá quân đội. Ngày 17 tháng 01 năm 1999 hai sĩ quan cao cấp của quân đội Trung Cộng, Qiao Liang và Wang Xiangsui, cho ra mắt ở Bắc Kinh cuốn sách mang tựa đề : « Cuộc chiến vượt ngoài những giới hạn » (La guerre hors limites).
Qua đó Trung cộng kêu gọi thực hiện một cuộc chiến toàn diện, trên tất cả các mặt trận với Mỹ, trong đó quân đội chỉ là một tác nhân trong nhiều tác nhân khác của cuộc chiến. Sách viết « Chiến tranh sẻ không được bãi bỏ, ngay cả trong thời đại gọi là hậu hiện đại, hậu công nghiệp. Nó chỉ len lỏi vào xã hội loài người một cách phức tạp hơn, bao trùm hơn, kín đáo hơn và tinh tế hơn…Nói một cách khác chúng ta thấy một sự giảm thiểu những xung đột quân sự, thì cũng thấy sư tăng trưởng của những xung đột chính trị, kinh tế và kỷ thuật…Chiến tranh từ nay sẻ sử dụng đến tất cả mọi phương tiện quân sự và phi quân sự, những phương tiện chính và phụ để khuất phục kẻ thù trước những quyền lợi của chúng ta ».
Bắt đầu thế kỷ 21, đã mở ra xung đột Mỹ-Trung, người Mỹ nghĩ rằng có thể cầm chân Trung Cộng bằng sự kiểm xoát lối vào thị trường thế giới, và sự tiếp cận với kỷ thuật tân tiến mà Trung Cộng mong muốn, cùng với sự kiểm xoát đa phần năng lượng của thế giới bởi người Mỹ. Còn Trung Cộng thì nghĩ rằng nó có thể khuynh loát Mỹ bằng sự chi viện với số ngoại tệ của nó cho Mỹ
Sự phát triển không lành mạnh của Trung Quốc là một trong những nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính ở Tây Phương năm 2007-2009, theo nhận định của các chuyên gia.
Tháng 05 năm 1999, không quân Mỹ dội bom lên tòa đại sứ Trung Cộng ở Belgrade, Nam Tư củ, giết chết ba quan chức tàu và gây thương tích khoảng 20 người khác. Bill Clinton gọi điện ngay lập tức cho Giang Trạch Dân, nhưng họ Giang từ chối không trả lời. Chính quyền Mỹ chính thức xin lỗi Trung Cộng. Nhưng Trung Cộng vẫn cho tổ chức những cuộc xuống đường rầm rộ ở Trung Quốc. Tòa Đại Sứ và Tổng Lảnh Sự Mỹ bị làm mục tiêu của những cuộc tấn công bằng bom xăng (cocktail Molotov) từ phía dân chúng tàu phẩn nộ. Lần đầu tiên có một sự bùng nổ của chủ nghĩa dân tộc tàu kể từ sau khi cs trung cộng chiếm quyền 1949. Nó cho thấy lòng thù hận tây phưong và Mỹ.
Để thay thế cho chủ nghĩa cộng sản, không còn giá trị gì nữa đối với quần chúng tàu. Giới cầm quyền Bắc Kinh đả chuyển sang chiến lượt mới : giương cao ngọn cờ « Trung Quốc vĩ đại » cùng với ngọn cờ « Những đe dọa từ bên ngoài ». Để đảm bảo một sự đoàn kết của quần chúng tàu duới ngọn cờ của đảng cs trung quốc. Đồng thời cũng là cách lái khối người đó ra khỏi những yêu sách không có lợi cho chính quyền.
Ngày 01 tháng 04 năm 2001, Trung Cộng cho một phi công cố tình va chạm nhẹ với một máy bay do thám của Mỹ trên không, khiến cho chiếc máy bay này phải đáp khẩn xuống Hải Nam. Trung Cộng bắt giữ phi hành đoàn và chiếc máy bay. Cùng lúc Trung Cộng tranh thủ xem xét tỷ mỷ kỷ thuật rơi từ trên trời xuống này. Washington phải xuống giọng xin lỗi tàu để đổi lấy sự phóng thích phi hành đoàn. Ngày 23 tháng 04 năm 2001, Bush cho phép một lần nữa bán tàu chiến, tàu ngầm và máy bay chiến đấu cho Đài Loan.
Tháng 11 năm 2009, Obama thăm Trung Quốc, người ta tưởng rằng quan hệ Mỹ-Trung lại nồng ấm trở lại. Nhưng chỉ vài tuần sau, tại hội nghị quốc tế về biến đổi khí hậu ở Copenhague, Đan Mạch, cả cộng đồng quốc tế trông chờ một hành động có trách nhiệm từ phía Trung Cộng với môi trường chung của nhân loại. Nhưng tất cả đều thất vọng về thái độ của Trung Cộng. OBama, cố gắn thuyết phục trong một buổi họp lần chót, nhưng phái đoàn của Trung Cộng không thèm đến dự họp. Ngày 12 tháng 01 2010, Google công bố kết quả điều tra cho thấy, đã bị tin tặc tấn công. Chính xát hơn là sự tấn công xuất phát từ hai trường đại học Jiaotong và Shanghai, hai trường được biết có mối quan hệ mật thiết với quân đội Trung Cộng, cùng với các công ty cạnh tranh với Google của TC. Tinh thần chống tàu ở Mỹ lại bùng lên trở lại, chính giới và giới tài phiệt Hoa Kỳ phản công kịch liệt. Hạ viện Hoa Kỳ dự trù ra nghị quyết xát định Trung Cộng như một kẻ « lũng đoạn » tiền tệ.
Cuối thập niên 2010, một số chuyên gia cho rằng mô hình Trung Cộng đã giúp nó vượt lên cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Nhưng thực chất theo những nghiên cứu nghiêm túc cho thấy TC sống trên một hòn núi lửa mà không biết nó phun khi nào. Chính quyền TC cho lập ra khoảng 8000 công ty tài chính, để vay vốn và đầu tư. Con số nợ của các công ty này sấp sỉ 100% PIB của TC năm 2011. Đó là tình trạng rất gần với Hy Lạp. Nghĩa là phá sản.
Theo Financial Times, 28 tháng 03 năm 2010.
Bong bóng địa ốc, và những hỗn loạn tài chính đã dẫn đến những biến động xã hội ở tàu. Và tiến trình đó chỉ mới đang ở giai đoạn đầu.
Lời kết :
Trung cộng là một hiểm họa cho cả thế giới, nó uy hiếp trực tiếp vị thế của Mỹ, Nhật và tây phương, và cả Nga. Nó nguy hiểm hơn Liên Xô nhiều lần đối với Mỹ.
Nó xung đột với Mỹ trên phương diện tiền tệ. Nó bị điểm mặt như một kẻ gian lận, vô trách nhiệm với cộng đồng quốc tế. Nó hưởng lợi về kinh tế nhờ vào chính sách lũng đoạn tiền tệ của nó.
Trên biển, nó xung đột với Mỹ, Nhật và các nước Asean, đặc biệt với Việt Nam, vì đánh giá thấp chính quyền cộng sản VN. Đô đốc Robert Willard, chỉ huy truởng hải quân Mỹ ở Thái Bình Dương, khẳng định : « Một trong những mối quan tâm của chúng tôi là, có những khía cạnh trong việc hiện đại hóa quân đội Trung Cộng, là nhằm chống lại sự tự do hoạt động của chúng tôi trong vùng. », theo New York Times, 23 tháng 4 năm 2010. Còn giám đốc của FBI thì tuyên bố : « Trung Cộng kể từ nay là một mối đe dọa nghiêm trọng nhất, vì nó đánh cắp các bí mật của chúng tôi để phát triển kỷ thuật quân sự của nó. ». Cựu giám đốc phản gián Mỹ thì nhận định : « Tình báo Trung Cộng, kể từ nay, là những kẻ hung hăng nhất thế giới, nhắm đến các mục tiêu của Hoa Kỳ. ».
Xung đột trên biển với Trung Cộng, người Mỹ đả tính toán từ lâu. Họ đặc căn cứ nguyên tử ở Okinawa, liên minh quân sự với Nam Hàn, Philippine, ký hiệp ước bảo vệ Đài Loan từ sau đệ nhị thế chiến. Mac Arthur, tổng tư lệnh quân đội Mỹ và đồng minh ở Thái Bình Dương trong đệ nhị thế chiến nhận định rằng, Đài Loan là một hàng không mẫu hạm không bao giờ chìm caủ Mỹ, nằm án ngữ ngay trước họng Trung Cộng. Một hòn đảo gần lục địa nhất thuộc chủ quyền Đài Loan, chỉ nằm cách bờ biển Trung Quốc 30km. Mac Arthur, một tướng tài có viễn kiến, người đã kiên quyết đánh Trung Cộng, sau chiến tranh Triều Tiên. Cũng vì không đồng ý với ông ta trong quyết định quan trọng này mà tổng thống Truman của Mỹ đã phải cắt chức và triệu hồi ông về Mỹ. Mặt dù chưa đụng độ quân sự với TC trên biển, nhưng người Mỹ đã chuẫn bị kỷ luỡng cho tình huống đó từ nữa thế kỷ nay. Bao giờ người Mỹ sẻ phải dùng đến quân đội để giải quyết kẻ thù nguy hiểm này ?. Có chuyên gia cho rằng, điều đó sẻ xảy ra trong một tương lai gần đây.
Bên trong của mối ban giao Mỹ-Trung, hay nói cho đúng là sự đối đầu giữa hai bên, là sự xung đột sâu và rộng hơn những gì được bộc lộ ra trong các tuyên bố công khai. Ngày 3 tháng 12 năm 2009, bộ quốc phòng Mỹ chuẫn bị một bản báo cáo thường niên, trong đó ghi : « Hoa Kỳ cần phải cẩn trọng chuẫn bị đối phó với sự cạnh tranh bất ổn, và xung đột với Trung Cộng, trong trường hợp mà sự tiếp cận bằng hợp tác không còn thích hợp nữa. ». Chính quyền Mỹ, sau đó đã cho thay thế đoạn văn nói trên và thay thế bằng một tuyên bố khác đã được công bố : « Hoa Kỳ hoan nghênh một Trung Quốc mạnh và giàu có, biết đảm nhận một vai trò quốc tế quan trọng hơn. », theo một tiết lộ của quốc hội Mỹ China naval Modernisation : Implications for US Navy Capabilities, Congressional Research Service, tháng 6 năm 2010.
Sử gia Paul Kenedy cho rằng, chính kinh tế là yếu tố tiên quyết dẫn đến chiến tranh từ năm 1500 đến 1980. Theo ông, tất cả những biến động về tương quan lực lượng quân sự trên thế giới đều dẫn đến những thay đổi trong cán cân sản xuất. Ba trường hợp trong lịch sử cận đại chứng minh điều đó. Sự bùng phát kinh tế của các nước, Pháp duới thời Colbert , ở Đức duới thời Frédéric II , Nhật dưới thời Meiji, cả ba đều dẫn đến chiến tranh sau vài thập niên cất cánh ngoạn mục của kinh tế chỉ đạo bởi những chính quyền độc tài nhưng hiệu quả. Họ so sánh Trung Cộng từ thời Đặng Tiểu Bình đã đi vào vết mòn của ba mô hình trên. Sự bùng phát về kinh tế dẫn đến những phản ứng tâm lý và các nhu cầu đảm bảo an ninh cho phát triển, những lo sợ cũng tăng theo với sự trổi dậy của những tham vọng chính trị và vị thế trên trường quốc tế. Tất cả những yếu tố đó cộng hưởng và gia tăng để cuối cùng dẫn đến chiến tranh.
Nhiều học giả cũng cho rằng chiến tranh lạnh đã bắt đầu giữa Mỹ và Trung Cộng. Trung Cộng đã thực sự chuyễn sang những hành động bành trướng một cách kiên nhẫn trên Biển Đông, và Bắc Hải. Nó gia tăng những khiêu khích với Mỹ và các quốc gia lân bang, bằng một sự phối hợp giữa quân đội, phe ngoại giao, và sử dụng luôn cả tàu đánh cá dân sự. Nhật Bản và các nước Đông Nam Á liên tục báo động về các hành động bành trướng này của Trung Cộng.
Có nhiều khả năng Mỹ sẻ không đứng bên lề quan sát, họ sẻ phải ra tay để chận đứng lòng tham không đáy của con quái vật này. Nó có thể bắt đầu bằng sự leo thang của những xung đột từ nhiều khía cạnh.
Những khó khăn về kinh tế trên tòan cầu nếu kéo dài thêm, sẻ thúc đẩy các chính quyền tây phương bảo vệ mậu dịch hơn nữa đối với TC. Điều đó chẳng khác nào giật lại miến ăn từ miệng của anh tàu, với tất cả những hệ trọng của nó.
Cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2009, cỏn trầm trọng hơn cuộc khủng hỏan tài chính năm 1929 ở Mỹ, với hệ quả là cuộc chiến tranh thế giới thứ hai. Vì từ khủng hoảng tài chính dẫn đến khủng hoảng kinh tế, và hậu quả là những biến động xã hội và chính trị, để kết thúc bằng một cuộc chiến tranh lan rộng. Đó là nhận định từ những nghiên cứu của các chuyên gia kinh tế và chính trị.
Mùa đông năm 2008-2009, sau khi khủng hoảng tài chính nổ ra, tòa thánh Vatican, đã bí mật cho thực hiện một cuộc nghiên cứu về một khả năng xảy ra xung đột quan trọng, ở một nơi nào đó trên trái đất trong một tương lai gần, theo học giả Phillipe Desserine, giáo sư và là giám đốc viện nghiên cứu thượng tần tài chính (haute finance). Một tương lai gần có nghĩa là duới 10 năm.
Các tài liêu tham khảo :
- Le monde s’en va-t-en guerre, Philippe Desssertine.
- La Guerre des empires, François Lenglet.
- Chine-USA La guerre programmée, Jean-françois Susbielle.
- Le Rapport de la CIA, Alexandre Adler.
- Naissance et déclin des grandes puissances, Paul Kenedy.
- Le Vampire du milieu, Philippe Cohen, Luc Richard.
- La fin de l’histoire et le dernier homme, Francis Fukuyama.
- Le Choc des civilisations, Samuel P. Huntington.
Nguyễn Hiếu Học.
Mail : hieuhocn@gmail.com
Blog : http://phothuongdan2011.wordpress.com/
TRUNG QUỐC – USA CUỘC CHIẾN ĐÃ ĐƯỢC TRIỂN KHAI
Đăng trong: Tháng Sáu 12, 2011 Filed under: Uncategorized Leave a comment »TRUNG QUỐC – USA CUỘC CHIẾN ĐÃ LÊN CHƯƠNG TRÌNH
Đó là tựa đề của một cuốn sách do học giả người Pháp Jean-François Susbielle, một người am tường về Á Châu từ hơn 20 năm qua. Sách do nhà xuất bản FIRST ấn hành năm 2006, tại Paris. Một tài liệu nghiên cứu nghiêm túc dài gần 400 trang khổ A5.
Sau đây tôi xin tóm lượt ngắn gọn nội dung của tài liệu nghiên cứu công phu và nghiêm túc này để gởi đến người Việt trong nước, thêm một cái nhìn tiêu biểu của giới chuyên gia tây phương đối với hiểm họa Trung Cộng. (lời ngưòi dịch được viết bằng nét chữ nghiên).
MỞ ĐẦU :
Chiến tranh thế giới thứ 4 :
Cái nôi của những sự xung đột trong tương lai không phải ở Trung Đông. Nó ở tại Đông Á ! vì sự trỗi dậy của Trung Quốc đối với Mỹ, là nguyên do của tất cả mọi mối đe dọa.
Thời gian không còn nhiều cho nước Mỹ để triệt hạ sự trỗi dậy của Trung Quốc, để gìn giữ vai trò lãnh đạo (leadership) của Mỹ.
Để ngăn chận sự trỗi dậy của Trung Quốc, Mỹ đả chi tiêu hơn 10 tỷ USD mỗi năm để phát triển hệ thống lá chắn chống hỏa tiễn. Cũng với lý do đó mà Mỹ sử dụng, theo con số được công bố, 510 tỷ USD cho nền quốc phòng, một ngân sách đã được nhân lên gấp hai kể từ cuối nhiệm kỳ của Bill Clinton.
Vì lý do phải giữ cho Trung Quốc trong tình trạng lệ thuộc về năng lượng mà nưóc Mỹ đã chiếm lấy Irak và các mỏ dầu hỏa của nưóc này. Và cũng để chuẩn bị cho một cuộc chiến thế giới thứ 4, khả dỉ có thể xảy ra, mà Mỹ đã thiết lập các căn cứ quân sự ở xung quanh nước tàu.
Một cuộc chiến tranh lạnh, một sự chung sống hòa bình giữa hai thế lực thù địch là điều khó nghĩ đến. Vì Trung Quốc không có một lực lượng đủ mạnh để đảm bảo một trạng thái cân bằng dựa trên học thuyết MAD (Mutual destruction Assured - Sự đảm bảo phá hũy lẫn nhau).
Vì vậy thực hiện một cuộc chiến tranh, là giả thuyết khả thi nhất, vì hòa bình không phải là một lựa chọn của Ngũ Giác Đài và cánh tân bảo thủ.
Và Nhật Bản có vai trò tiên phong đứng ra chống tàu.
Cuộc chiến tranh lạnh, là cuộc chiến thế giới thứ 3 mà Mỹ là kẻ chiến thắng
Người ta thường quên rằng cuộc chiến chống cộng sản mà Mỹ đã chủ động, là một cuộc chiến tranh toàn cầu, mà địa bàn triển khai trải dài từ Việt Nam đến Phi Châu, từ Triều Tiên đến Cu Ba, và từ Berlin đến Santiago.
Cuộc chiến thứ ba đã chính thức bắt đầu vào tháng 8 năm 1945, với hai quả bom nguyên tử ở Hiroshima và Nagasaki, nhằm bắt buộc Nhật đầu hàng và cũng là để thị oai với Liên Xô đồng thời vạch ra một lằng ranh giới hạn những tham vọng của họ. Cuộc thế chiến thứ 3 này đã chấm dứt ngày 09 tháng 11 năm 1989 với sự sụp đổ của bức tường Bá Linh và chiến thắng toàn diện thuộc về Mỹ.
Hiểm họa trung cộng
Trung quốc là một mối đe dọa cho sự ổn định ở Đông Á, và là một sự thách thức với trật tự thế giới, đó là những khẳng định của chính giới Hoa Kỳ, và đó cũng là những đánh giá của chính giới Nhật Bản.
Mỹ và Nhật sẻ không để cho Trung Cộng vượt lên quá giới hạn mà họ có thể chấp nhận được.
Đối với giới diều hâu trong chính quyền Mỹ thì, Trung Quốc với một nền kinh tế tập trung, một ngân khoảng quốc phòng bội tăng, và sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc quá khích, là một quốc gia phát-xít.
Mặt dù Trung Quốc cũng chỉ mới bắt đầu trỗi dậy, nhưng nó đã khuất phục môi trường chung quanh nó, để sử dụng cho mục tiêu đẩy mạnh phát triển của nó, từ cánh đồng đậu nành ở Brésil đến các mỏ dầu hỏa của Phi Châu, và tiến trình này cũng chỉ mới ở giai đọan đầu.
Thời khắc đã điểm
Trung Quốc thì muốn mua thời gian, vì thời gian vô cùng quý giá đối với họ, nó giúp họ đạt đến chiến thắng không tránh khỏi. Và Mỹ thì cũng hiểu là thời gian của Mỹ cũng không còn nhiều nữa.
Đối với Mỹ, thì Liên Xô và cả hệ thống chính trị và kinh tế của nó, không tranh dành những quyền lợi sống còn với họ. Cả hai hệ thống không có gì tuơng đồng và đã được thiết kế để tồn tại độc lập với nhau. Đằng này với Trung Cộng thì lại khác hẳn. TC ở ngay trung tâm điểm của nền kinh tế toàn cầu hóa.
Cuộc chiến tranh thế giới thứ 4 có lẻ đã bắt đầu vào tháng 5 năm 1999, với một cuộc dội bom lên tòa đại sứ của Trung Cộng ở Belgrade. Cuộc chiến này sẻ không kéo dài 45 năm như cuộc chiến tranh lạnh, vì trước cuối thập niên này thì Mỹ và Tàu sẻ có cuộc hẹn với lịch sử.
PHẦN THỨ I
Tái thiết lập đế quốc Trung Hoa
« Nguời Trung Quốc muốn gì ? » đó là câu hỏi mà cả thế giới đang lo ngại tự đặt ra, trưóc cái gọi là « sự trỗi dậy hòa bình » của Trung Quốc. Họ cũng chưa quên rằng chỉ vừa chiếm được chính quyền ở Trung Quốc, thì quân đội của Mao đã tiến chiếm Tây Tạng, phá hủy các đền thờ và tàn sát các vị sư sãi.
Nguời Trung Quốc muốn gì ?.
Vào cuối thế kỷ XVIII họ đã là nền kinh tế hàng đầu thế giới, và là trung tâm của thế giới. Sau đó là một giai đoạn tăm tối cho đến năm 1979, để thoát ra với những chính sách mở cửa của Đặng Tiểu Bình, và rồi sẻ nối lại dòng lịch sử đế quốc của nó ?.
Không những họ thèm khác sự công nhận, và kính nể của thế giới, Trung Quốc còn muốn phục thù rữa hận vớì « một thế kỷ của sự nhục nhã », và dành lại vị thế bá chủ thế giới của họ. Phần còn lại của thế giới sẻ phải thuần phục họ như các chư hầu ngày xưa.
Sự phục thù đối với lịch sử
Khi mà các học giả tây phưong, qua nhiều nhiên cứu khoa học, cho rằng loài người có nguồn gốc từ Phi Châu, thì các khoa học gia Trung Quốc cương quyết phủ nhận. Họ cho rằng người Trung Quốc xuất thân từ một chủng người riêng biệt, người vượn Bắc Kinh.
Giới khoa học gia Trung Quốc quyết tâm, và tìm mọi cách để chứng minh rằng người Trung Quốc có nguồn gốc hoàn toàn khác với phần còn lại của nhân loại. Họ đặc lại vấn đề một cách hệ thống với các kết quả nghiên cứu của giới khoa học gia tây phuơng. Họ phục vụ cho một mục đích nhằm chứng minh với thế giới và với dân tộc họ rằng họ thuộc một dòng giống chính thống và duy nhất, một chủng tộc thuần chủng không pha trộn, là cái nôi văn minh của chính họ . Điều đó phù hợp với niềm tin rằng họ là trung tâm của thế giới.
Chủ đích tạo nên ý thức về một chủng tộc duy nhất, độc lập và rất khác biệt với các chủng tộc khác, rất phổ biến nơi người Trung Quốc. Vì lẻ đó họ tự xem mình là thuần chủng và rất ít pha trộn với các dân tộc ở xung quanh.
Lời bàn của người dịch :
Trung Quốc, qua việc nghiên cứu nguồn gốc chủng tộc, đã sử dụng các phương pháp khoa học để tạo cơ sở vững chắc cho các quan niệm tư tôn dân tộc và kỳ thị chủng tộc một cách sâu sắc. Đó cũng là việc làm của chính quyền Đức Quốc Xã ngày xưa.
Phần tiếp theo của tác phẩm, tác giả lượt qua lịch sử của Trung Quốc từ nguồn gốc của ngưòi Hán đến những giao tiếp đầu tiên của họ với Tây Phương. Bắt đầu là những giao tranh với ba cuộc chiến tranh nha phiến giữa TQ với Anh, rồi với liên quân Anh, Pháp, Mỹ, Nga. Theo tôi, thực chất nha phiến chỉ là cái cớ để nước Anh và Tây Phương tiến hành chiến tranh nhằm làm suy yếu và triệt hạ TQ. Vì ngay từ đầu thế kỷ 19, Hoàng Đế Pháp, Napoléon đệ I, đã nhận định : « Khi Trung Quốc thức dậy, thì thế giới sẻ run sợ. »
Tiên hạ thủ vi cường, đầu thế kỷ 19 các cuờng quốc Tây Phương liên minh tấn công TQ. Chiến tranh xảy ra vào giai đoạn từ năm 1839 đến 1860, nhằm lúc suy yếu của TQ. Trong vòng hơn 20 năm họ phải đối phó với những cuộc chiến với Tây Phương và nạn ma tuý. Chưa yên, thì hơn 30 năm sau, năm 1895 Nhật tấn công TQ. TQ thảm bại trước tất cả mọi cuộc tấn công và bắt buộc phải cắt đất cho Nhật và Nga, nhượng bộ các yêu sách của Anh. Tư thế bất lực của họ trưóc những chèn ép của các cường quốc Tây Phương và Nhật kéo dài suốt khoảng một thế kỷ. Đối với người TQ đó là « một thế kỷ của sự ô nhục ». Một mối hận mà họ muốn trả ?.
Có thể nói, Đặng Tiểu Bình đã mở màn cho những tham vọng trở lại ngôi vị bá chủ thế giới của người TQ. Họ Đặng cũng không quên dặn dò người TQ, phải « che dấu ý đồ của mình, che dấu thực lực của mình »… « Không nên giưong cao những ngọn cờ, và lèo lái con sóng » (họ Đặng muốn nói là không nên giương cao ngọn cờ dân tộc chủ nghĩa, hay công khai những sự hảnh diện, hoặc thái độ của kẻ cả, kẻ thống trị)
Họ Đặng khẳng định « một quốc gia yếu thì không có ngoại giao ». Vì vậy phải chịu khó cong lưng, khi mà họ vẫn chưa có khả năng để áp đặt trên phương diện ngoại giao. Sự lẫn tránh va chạm đó của người TQ đối với Mỹ, đã khiến cho Mỹ khó kéo TQ vào trong một cuộc đọ sức cho đến đầu thập niên vừa qua.
Chúng ta thấy từ vài năm nay, giới lãnh đạo Bắc Kinh đã thay đổi thái độ, không cần che giấu tham vọng và những dã tâm của họ nữa. Thái độ thách thức cộng động quốc tế của TQ ngày một rỏ rệt. Mỹ, Tây Phương, Nhật, và cả cộng đồng quốc tế đang đứng trước một thách thức vô cùng lớn của lịch sử nhân loại vì mức độ nghiêm trọng, vì bản chất và cách hành xử của chính quyền Trung Quốc.
Một chính quyền đã thể hiện, theo như logic lịch sử của họ, tham vọng vô bờ bến, cách hành xử bất chấp thủ đoạn, bất chấp các nguyên tắc, luật lệ, và quy uớc của cộng đồng quốc tế trong mọi lĩnh vực, từ nhân quyền, dân chủ, đến kinh tế và chính trị…
Hơn nữa lảnh đạo TQ hiện nay vẫn theo đuổi tư tưởng theo đó họ là chủng tộc siêu đẳng hơn cả, họ phải thống trị thế giới, và phần còn lại thì đuơng nhiên phải là chư hầu của họ.
Trung Quốc còn là một sự đe dọa cho mô hình dân chủ trên toàn cầu.
Như họ Đặng đã tuyên bố « một hòn núi không cho phép hai con hổ sống chung ». Như vậy họ đã xác định Mỹ như là kẻ thù không đội trời chung.
Và để kết thúc phần I của tài liệu này, tác giả viết :
« Thế giới được chia ra thành nhiều chiến quốc, như thời đại Xuân Thu Chiến Quốc bên tàu. Một cuộc chiến là không thể tránh khỏi, Trung Quốc biết rất rỏ, và vẫn luôn biết như vậy. Ngày hôm nay, TQ không thể thắng đuợc, nó chưa sẵn sàng. Mỹ thì đã thức tỉnh.
Chiến dịch be bờ của Mỹ đối với TQ đã triển khai, sự trả đũa của TQ cũng đi theo. Bao giờ thì sự bùng nổ từ bên trong TQ, vì những bất công và áp bức sẻ xảy ra ?. Bao giờ thì thị truờng thế giới sẻ phải đóng lại, vì nó đã quá mở rộng cho TQ hưởng lợi ?. Và bao lâu nữa thì các hiệp sĩ Nhật sẻ quay lại thách đấu với tàu ?. »
PHẦN II : CUỘC CHIẾN ĐÃ BẮT ĐẦU
Cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ chỉ là diện, còn điểm chính là Trung Quốc. Một kẻ thù nguy hiểm mà người ta né tránh không chỉ đích danh.
Sự xung đột giữa Mỹ và Trung Cộng là trọng tâm của những mối ban giao quốc tế từ năm 1996, và là chìa khóa cho sự tìm hiểu về thế giới đương đại.
Mỹ phải đối phó với một đối thủ năm lần lớn hơn Liên Xô. Mỹ thì tìm cách bao vây, kìm hãm. Trung Cộng thì tìm cách vượt ra khỏi ranh giới lục địa của mình.
« Chenese Century » chống lại « New American Century” (“Thế kỷ của Trung Quốc” chọi với “Tân thế kỷ của nước Mỹ »).
Nguời TQ có tham vọng dành lấy vai trò Leadership của Mỹ. Nhưng cái gọi là « Chenese Century » chỉ là ảo vọng. Vì người Mỹ đã dứt khoát lập một dự án cho thế kỷ này. Dự án đó mang tên « Project for a New American Century”. Những tác giả của dự án đó là giới tinh hoa nằm trong cánh tân bảo thủ.
Nhóm tân bảo thủ
Đầu thập niên 70, đã hình thành một nhóm chính giới mà người ta gọi là “cánh hữu mới”. Nó ra đời để đối chọi lại với những sự thái quá của nhóm “cánh tả mới”. Chính nhóm “cánh hữu mới” này đã đưa Ronald Reagan lên nắm quyền năm 1980.
Nhóm Tân Bảo Thủ của đảng Cộng Hòa, kết hợp với các nhân vật có thế lực của Ngũ Giác Đài, quyết định tăng cường khả năng quân sự, để chống lại chính sách giảm căng thẳng của Kissinger và Nixon, cũng như chống lại hiệp ước cắt giảm vũ khí SALT.
Những nhân vật chính trong nhóm đó gồm có, Dick Cheney, Donald Rumsfeld, Paul Wolfowitz, Richard Perle…họ đã đưa ra dự án có tên gọi “Dự án cho một thế kỷ mới của nước Mỹ”.
“TEAM B” : Sự ra đời của một ê kíp (l’équipe)
Đuợc sự mời gọi của tổng thống Ford, George H. Bush rời chức vụ đại sứ Hoa Kỳ tại Trung Quốc để nhận chức giám đốc CIA, vào năm 1975. Ngay lập tức ông ta cho tiến hành một nghiên cứu về sự đe dọa của Liên Xô trong lĩnh vực hỏa tiễn và các máy bay thả bom chiến lượt.
Nhóm các chuyên gia mang tên “TEAM B” ra đời, trong đó có bộ óc của Lầu Năm Góc Paul Wolfowitz và Richard Perle là người đứng ra thành lập. Đó cũng là giai đoạn xảy ra mâu thuẫn giữa CIA, được mệnh danh là nhóm “Team A”, với Ngũ Giác Đài. Ngũ Giác Đài, cơ quan đỡ đầu của nhóm “Team B”.
Tranh chấp giữa “Team A” và “Team B” cũng chỉ mới bắt đầu…Nó kéo dài cho đến ngày nay với vụ “Plame”.
Năm 2002 và 2003, CIA từ chối sản xuất ra những bằng chứng để biện minh cho việc tấn công Irak, mà Cheney yêu cầu.
Cũng chính nhóm Tân Bảo Thủ “Team B”, bên cạnh Ronald Reagan đã cho triển khai kế hoạch “ cuộc chiến giữa các vì sao”, một hệ thống phòng thủ chống tên lửa. Theo đảng Cộng Hoà lúc bấy giờ, đó là câu trả lời thích hợp nhất với mối đe dọa từ Liên Xô.
Đối với họ, nhóm Tân Bảo Thủ, việc thúc đẩy Liên Xô vào cuộc chạy đua vũ trang, đã mang lại thắng lợi cho nước Mỹ, đưa Liên Xô đến tình trạng tự giải thể.
Một thành viên của nhóm đó, Francis Fukuyama, tác giả của cuốn sách “Điểm cuối cùng của lịch sử” (La fin de l’histoire), cho rằng, Dân Chủ Tự Do sẻ là mô hình chính trị cuối cùng của nhân loại, chứ không phải mô hình cộng sản chủ nghĩa như Marx khẳng định.
Một nỗi ám ảnh : Trung Quốc
Khi hiểm họa cộng sản qua đi thì năm 1992, Trung Cộng với các chính sách của Đặng Tiểu Bình đã lặng lẻ thay thế chủ nghĩa cộng sản bằng kinh tế thị truờng, mở cửa ra bên ngoài, và tự do hóa mậu dịch. Cánh Tân Bảo Thủ bắt đầu lo ngại.
Trung Quốc, với tiềm năng công nghệ bằng với Nhật Bản, Đức và các con hổ Á Châu khác cộng lại, với một quyết tâm chiến thắng, một tham vọng sẳng có muốn trở thành bá chủ thế giới. Trung Quốc, duới con mắt của cánh tân bảo thủ, không phải là một đối thủ về ý thức hệ, mà họ có thể đẩy tới tình trạng phá sản bằng một cuộc chạy đua vũ trang. Trung Quốc là một đối thủ đáng gờm hơn, đối thủ duy nhất và có trọng lượng.
Hungtinton, lý thuyết gia của “cú sốc giữa các nền văn minh”, đã giúp cho chính giới Mỹ
những lý lẻ để thiết lập một “trật tự mới của thế giới”.
Thật vậy, nhà sử học người Mỹ này đã đặc nền tảng lý thuyết cho một quan niệm về tính bất ổn của thế giới.
“Cú sốc giữa các nền văn minh”
Samuel Huntington, cho rằng, sau sự sụp đổ của Liên Xô, quốc gia dân tộc là trung tâm điểm của chính trị quốc tế từ thế kỷ 19 đã cáo chung. Thế kỷ 21, sẻ diễn ra những xung đột giữa các nền văn minh. Theo ông ta, kể từ nay, sự xung đột giữa các dân tộc sẻ phát xuất từ các yếu tố văn hóa và tôn giáo. Tây Phương thiên chúa giáo, hồi giáo, cộng đồng ấn độ giáo, cộng đồng nho giáo sẻ là ngòi nổ cho những xung đột trong tương lai.
Huntington kết luận : hiểm họa lâu dài và nghiêm trọng nhất đến từ Trung Quốc. Trung Quốc, bởi nó mang những giá trị văn hóa quá khác biệt với Tây Phương, là một kẻ thù của nền văn minh Thiên Chúa Giáo của Tây Phương. Hiểm họa được đặc ở vị trí thứ hai là thế giới hồi giáo.
Hồi giáo và Trung Cộng là hai đồng minh tiềm năng và có tính tự nhiên. Bởi họ có chung một cách nhìn về các quan hệ quốc tế.
Mọi biện pháp cần được áp dụng để bẻ gảy liên minh hồi giáo với khổng giáo này.
Ngay khi vừa lên nắm quyền, từ tháng 01 năm 2001, chính quyền của đảng Cộng Hòa làm tất cả mọi thứ để hiện thực hóa thế giới quan này. Những quan hệ quốc tế nổi bật lên ba đối tượng chính : Mỹ, Trung Cộng, thế giới hồi giáo.
Kẻ thù phải ưu tiên đánh là Trung Cộng, và hồi giáo toàn thống sẻ được sử dụng như một thanh kiếm.
PNAC : “Project for a New American Century” (Dự án cho một thế kỷ mới của nước Mỹ)
Học thuyết PNAC, được phát họa từ năm 1992, bắt đầu bằng một tài liệu có tên “Défense Guidance” (Cẩm nang quốc phòng) dưới sự điều khiển của Dick Cheney, khi đó là tham chánh văn phòng bộ quốc phòng (secrétaire d’Etat à la Défense), của chính quyền Bush (cha).
Dự án đó có mục đích là đảm bảo sự thống lĩnh của Hoa Kỳ trên toàn cầu bằng cách sử dụng đến vũ lực, nếu cần. Paul Wolfowitz và Lewis Libby là hai nhân vật được đặc trách biên soạn. Nhiều ý tưởng của tài liệu trên đã được đem ra áp dụng trong chính sách của Georges W. Bush vào năm 2001.
Sự hình thành của PNAC
Tổ chức PNAC, đuợc chính thức thành lập năm 1997 nhằm mục đích đảm bảo cho sự lãnh đạo của Mỹ trên toàn cầu “American Global Leadership”. Đó là một mục đích rất rỏ ràng.
Tổ chức PNAC là một tổ chức chính và có ảnh hưởng nhất trong các nhóm tư tuởng gia “think tanks” được sự tài trợ của những người Tân Bảo Thủ. Khẩu hiệu của họ đơn giản và thẳn thắng : sự lãnh đạo của Hoa Kỳ là một điều tốt không những cho Mỹ mà còn cho cả thế giới.
Để thực hiện mục tiêu đó, Mỹ phải có một sức mạnh quân sự vô địch, một nền ngoại giao cứng rắng, để áp đặc những nguyên tắc đạo đức mà Mỹ tôn vinh. Phải thiết lập trật tự và luật lệ trên toàn cầu phù hợp với quyền lợi của Mỹ. Vì vậy, lúc đó là năm 1997, Mỹ phải gia tăng ngân sách quốc phòng để hiện đại hoá quân đội Mỹ nhằm đáp ứng với vai trò toàn cầu của Mỹ.
Nhóm PNAC, gồm những nhân vật tiêu biểu, đã hoặc đang nắm những chức vụ cao cấp trong chính trường Mỹ, như :
Dick Cheney, Donald Rumsfeld, Paul Wolfowitz, Lewis Libby, Richard Perle, Steve Forbes, Richard Armitage, Robert Zoellick, Zalmay Khalilzad, John Bolton, Dan Quayle, elliott Abrams, Jeb Bush, William J. Bennett, Francis Fukuyama, William Kristol.
Chương trình PNAC cho cuộc bầu cử năm 2000
Trong nhiệm kỳ của Clinton, từ 1993 đến 2000, dưới sự tài trợ của các tập đoàn công nghiệp – quốc phòng và dầu hỏa, nhóm tân bảo thủ kiện toàn dự án của mình.
Tháng 09 năm 2000, những ý tuởng khởi xướng, dưới sự chỉ đạo của Dick Cheney, đã cho công bố bản tường trình nổi tiếng “Rebuiding America’s Defenses” : Tái cấu trúc nghành quốc phòng của Mỹ bao gồm chiến lượt, sức mạnh và nguồn nguyên liệu, cho thế kỷ mới. Một tài liệu với những đường hướng chính, và được gọi là “Học thuyết Bush” (doctrine Bush), như sau :
- Tái phối trí các lực lượng Mỹ, để đáp ứng thực tế chiến lượt của thế kỷ XXI, nhằm đối phó với những quan ngại của Mỹ tại Đông Á (Trung Quốc).
- Đảm bảo trật tự và luật pháp trên toàn cầu để phục vụ cho các quyền lợi của Mỹ.
- Hoa Kỳ phải tranh thủ tư thế thượng phong về quân sự và kinh tế để đảm bảo một vị thế không thể tranh giành được. Một thế thượng phong không được từ chối và không thể từ chối để thiết lập một kỷ nguyên thống lĩnh.
- Tiến hành bãi bỏ tất cả những hiệp ước quốc tế giới hạn sự tự do hành động và lãnh đạo của Hoa Kỳ.
- Cho phép sử dụng vũ khí nguyên tử nếu cần để đạt được mục đích mà Mỹ đã ấn định.
Kẻ thù được xát định bởi nhóm PNAC : Trung Quốc
Bản tường trình của PNAC, dùng từ Đông Á (East Asia) để chỉ định một đối thủ quan trọng ở mức độ phải xét lại các chiến lượt và gia tăng cải tiến quân đội trong một thế giới biến đổi nhanh chóng với những hiểm họa đang trổi dậy. Hiểm họa nào vậy ? chỉ có một, đó là Trung Quốc, một cái tên không bao giờ đuợc đề cập đến một cách trực tiếp, nhưng luôn luôn hiện diện, một cách ám ảnh, nơi trọng tâm của các cuộc thảo luận. Nguời ta tìm thấy sự dè dặt và kín đáo này trong những năm đầu của nhiệm kỳ George W. Bush. Chính cuộc chiến chống khủng bố là cái cớ để triển khai quân đội bao vây Trung Cộng. Sự thiết lập các căn cứ quân sự tại các nước Trung Á và Đông Nam Á, đặc sự kiểm soát lên nguồn dầu hỏa Irak, một nguồn cung cấp của Trung Cộng …
Nổi ám ảnh của các tay tân bảo thủ đối với vấn đề Trung Cộng đã đẩy họ liên tục tấn công vào chính quyền Bill Clinton, điều đó đạt đỉnh cao vào nhiệm kỳ thứ hai của ông ta.
Bill Clinton và bàn tay của Trung Cộng
Năm 1991, Bill Clinton trong lúc tranh cữ đã tuyên bố “tôi sẻ không bao giờ bắt tay với những đao phủ của Thiên An Môn”. Nhưng đến tháng 01 năm 1993, khi bước chân vào Tòa Bạch Ốc, thì ông ta lại áp dụng một chính sách thực dụng hơn. Lúc bấy giờ quốc vụ khanh đặc trách quốc phòng (Secrétaire d’état à la défenses) là William J. Perry thì lại nhận định khác với nhóm PNAC : Nếu chúng ta đối xử với Trung Quốc như kẻ thù, thì nó sẻ hành xử như kẻ thù, và nó sẻ trở thành một kẻ thù chắc chắn. Đó là quan điểm chiến lượt mà Clinton theo đuổi, mặt dù vào năm 1996, một tuớng lãnh của TQ đe dọa sẻ trả đũa Mỹ bằng những cuộc tấn công bằng nguyên tử vào Los Angeles.
Đối với chính quyền của Clinton, thì không nên dồn Trung Cộng vào đường cùng, mà ngược lại phải mở rộng tất cả mọi cánh cửa cho nó. Điều đó càng đúng với các lãnh đạo với đặc điểm là rất dể tự ái và xúc động của Trung Quốc. Họ cho rằng phải mở rộng hơn nữa những trao đổi, hợp tác thương mại, và khoa học, và nói chung là làm tất cả mọi thứ để Bắc Kinh hội nhập một cách hài hòa vào một cộng đồng thế giới hòa bình và thịnh vượng. Chính sách rộng lượng đó mang tên “Engagement”. Một từ tiếng Anh có ý nghĩa là tham gia một cách tích cực. Với hy vọng là TQ tham gia một cách tích cực, với sự tiếp đón và thu nhận nó vào những quy trình kinh tế toàn cầu, sẻ tránh khỏi một cuộc chiến tranh lạnh mới, điều mà đảng Dân Chủ Mỹ không muốn thấy.
Chuyển giao công nghệ để mua lấy hòa bình
Và thế là chính quyền Clinton, từ năm 1993, đã mở cửa cho các khoa học gia TQ tham gia vào các phòng nghiên cứu nguyên tử, những căn cứ nguyên tử. Vài nhân vật của đảng Dân Chủ còn muốn chuyển giao cả những bí mật quốc phòng, loại tối mật nhất, cho TQ. Họ tin tuởng là nếu sang bằng thế thượng phong về công nghệ thì sẻ không còn tranh chấp, và như vậy sẻ dập tắc những mầm mống của chiến tranh.
Clinton và chính quyền của ông ta, nói chung, xem TQ như một đối tác chiến lượt.
Cuộc phản công của phe chống TQ
Trong nhiệm kỳ I của Clinton, TQ chưa ý thức được cái giới hạn của những ân huệ có được. Giới hạn, vì lực lượng diều hâu và ngũ giác đài sẻ không chậm trể để mà đáp trả. Nhiệm kỳ II của Clinton sẻ là thời điểm mà phái này sẻ đem mổ sẻ chính sách “engagement” của Clinton. với Trung Cộng.
Năm 1997, phái diều hâu tấn công mạnh. Năm 1998, Clinton chao đảo với một loạt những cáo trạng : gian díu với Monica Lewinsky, bị điều khiễn bởi Trung Cộng quốc gia đã tài trợ cho cuộc tranh cử của ông ta, đã mở cửa cho tình báo TQ tràn ngập vào nước Mỹ, chuyển giao những công nghệ nhạy cảm, gây nguy hại trầm trọng cho nền an ninh của Hoa Kỳ.
Trung Quốc có lẻ đã tài trợ cho cuộc tranh cử của Clinton năm 1996
Cánh tân bảo thủ xát nhận rằng Bill Clinton đã nhờ vã đến những người bạn gốc Hoa của ông ta như Johnny Chung, John Huang, Charlie Trie để trang trải chi phí cho cuộc vận động tranh cử năm 1996. Cùng với những người như Maria Hsia hay Liu Chaoying mà đàng sau là cơ quan tình báo của Trung Cộng. Bill Clinton trả lời bằng tuyên bố rằng ông ta sẻ vô cùng ngạc nhiên nếu biết rằng một phần trong quỹ dành cho cuộc vận động tranh cử của ông ta, có nguồn gốc từ Trung Quốc.
Chuyển giao công nghệ
Trung Quốc đã lợi dụng sự hời hợt và ngây thơ của Clinton, để thu tóm nhiều công nghệ nhạy cảm trong lĩnh vực quốc phòng, đó là lời tố cáo của nhóm tân bảo thủ.
Bị tình nghi là đã chuyển giao bất hợp pháp các công nghệ về hỏa tiễn, công ty Loral Space & Communications đã phải bị điều tra. Lãnh đạo của Loral Space không ai khác hơn là Bernard Schwartz, nhà tài trợ lớn nhất cho cuộc vận động tranh cử của Clinton năm 1996.
Chính quyền Clinton cũng bị tố cáo là đã bán các siêu máy tính, đồng thời bán trọn bộ một nhà máy chế tạo máy bay thả bom chiến lượt cho TQ, với lý do luôn là, cân bằng tuơng quan lực lượng và chia sẻ công nghệ, là loại bỏ những rủi ro xảy ra chiến tranh.
Tình báo Trung Cộng
Các cơ quan phản gián của Hoa Kỳ ngay từ năm 1995 đã tố giác TQ ăn cắp những bí mật nguyên tử trên đất Mỹ. Tiêu biểu là trường hợp của Wen Ho Lee, một công dân Mỹ gốc Hoa làm việc tại phòng thí nghiệm Los Alamos National Laboratory (LANL), nơi đã sản sinh ra quả bom nguyên tử đầu tiên và vẫn là nơi sáng chế ra đa phần của lực lượng nguyên tử. Công nghệ bị đánh cắp liên quan đến việc chế tạo đầu đạn nguyên tử loại “tí hon” giòng cuối cùng, được biết đến với mã số “W-88”, cùng với công nghệ làm bom neutrons.
Bản báo cáo “Cox”
Công bố năm 1999, theo yêu cầu của một nhóm chuyên trách của quốc hội, bản báo cáo “Cox” xát nhận là Trung Quốc đã đánh cáp các công nghệ liên quan đến bom neutrons và đầu đạn nguyên tử tí hon W-88. Kết quả của những công nghệ đưọc đánh cắp này được nhận thấy trong các hỏa tiễn DF-31, một loại hỏa tiễn tối tân nhất của TQ.
Cuộc chiến ở Kosovo và cuộc đánh bom vào toà đại sứ TQ ở Belgrade
Bằng cách sử dụng cơ chế l’OTAN để triễn khai vào năm 1999 một cuộc can thiệp quân sự vào Kosovo, Mỹ đã không để cho TQ sử dụng diễn đàng ONU với quyền phủ quyết của nó trong hội đồng bảo an liên hiệp quốc để lên tiếng.
Trung Cộng phản đối
Trung quốc luôn lên tiếng bảo vệ nguyên tắc không can thiệp vào nội bộ của các quốc gia, một nguyên tắc không lay chuyển của Liên Hiệp Quốc (ONU).
Đó là một nguyên tắc mà TQ xử dụng để biện minh cho chính sách của mình với Đài Loan và các vùng bị TQ xâm chiếm khác. Chỉ cần tuyên bố vùng đó là thuộc TQ, rồi nhân danh công việc nội bộ để bảo vệ lập trường.
OTAN thả bom tòa đại sứ TQ
Sự kiện xảy ra ngày 07 tháng 05 năm 1999. Giữa ban đêm, máy bay tàn hình B-2 tiến vào không phận Nam Tư mà không hề bị phát hiện bởi các radars, sau đó tiến thẳng vào thủ đô Belgrade. Nó thả 5 quả bom loại JDAM (Joint Direct Attack Munitions), loại bom cực kỳ chính xát được dẫn đường bằng vệ tinh (GPS). Ba trong số đó đánh đúng mục tiêu cùng một lúc, và mục tiêu đó là tòa đại sứ Trung Cộng, giết chết ba viên chức TQ và làm bị thương khoảng hai mươi người khác.
Lãnh đạo OTAN giải thích đó là một sai lầm do chú thích sai lạc trên bản đồ, còn Bill Clinton thì chính thức xin lỗi. Bắc Kinh thì cương quyết tố cáo đó là một sự xâm phạm chủ quyền của TQ, đồng thời cũng là một sự vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc của Vienne trong quan hệ ngoại giao. Nhũng cuộc xuống đường, hung hăng chống Mỹ, nổ ra rầm rộ ở TQ.
Nguyên nhân của cuộc dội bom ?
Các chuyên gia đặc ra câu hỏi về thực chất của cuộc tấn công quân sự này. TQ phải chăng đã đặc bên trong tòa đại sứ của họ những hệ thống tiên tiến nhằm theo dõi và nghe ngóng những thông tin quân sự mà họ chuyển giao cho Nam Tư ?. Hay là họ chỉ thâu thập thông tin cho riêng họ, tranh thủ thời cơ duy nhất để quan sát các quân đội của OTAN và chiến thuật của họ ?.
“Cuộc chiến giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc là không tránh khỏi”
Cuộc tấn công vào tòa đại sứ TQ, và sự can thiệp quân sự vào Kosovo cho thấy một sự thay đổi trong chính sách của Bill Clinton nhằm chứng tỏ với giới bảo thủ sự thực hiện những cam kết của ông ta. Đối với TQ, cái ngoặc đơn Clinton đã khép lại vào năm 1998.
Tháng 12 năm 1999, Trì Hạo Điền, bộ truởng bộ quốc phòng TQ, khẳng định là chiến tranh là điều không tránh khỏi giữa một bên là Mỹ tìm cách áp đặc một thế giới đơn cực, và một bên là TQ luôn từ chối điều đó. TQ phải có khả năng sẳn sàng chiến đấu trong vòng một năm, hai hay ba năm, hay ngay cả trong một thời gian dài hơn…
Những tuyên bố của Trì Hạo Điền được thường xuyên sử dụng như một bằng chứng không thể chối cải về những chủ đích hiếu chiến của Trung Quốc.
Hình ảnh của Trung Quốc xuống cấp rất nhanh
Những tố cáo về các hoạt động gián điệp cùng với những tố giác về Bill Clinton, đã cũng cố dư luận quần chúng Mỹ rằng TQ là một quốc gia thù nghịch và nguy hiểm.
Một cách chậm rãi và âm thầm, hình ảnh của kẻ thù Trung Cộng đã hình thành trong tâm thức của người Mỹ. TQ ngày hôm nay được chỉ định như nguyên nhân của những sự mất mát công việc làm ở Mỹ, thủ phạm của nhiều vụ gián điệp đánh cắp các bí mật quân sự Mỹ, bị tình nghi là muốn đá Mỹ ra khỏi phía bắc của Thái Bình Dương, và muốn giành lấy ngôi vị đứng đầu thế giới của Mỹ. Chỉ cần nhắc thêm với quần chúng Mỹ là TQ là một nước cộng sản độc tài, là khơi lại cho công dân Mỹ một quá khứ thù hận.
Giới tân bảo thủ của Mỹ đề xướng một chính sách be bờ đối với TQ, như đã từng thể nghiệm thành công với URSS, để chận đứng sự trỗi dậy của TQ, đồng thời để chấm dức tham vọng giành lấy ngôi vị đứng đầu thế giới của Mỹ. TQ không những thế còn muốn kéo Liên Xô vào một liên minh chống lại Mỹ.
Tháng 01 năm 2001, George W. Bush bước chân vào tòa Bạch Ốc, quan hệ My-Trung từ nay sẻ không còn như trước nữa.
Chính sách be bờ TQ của Mỹ, “học thuyết Bush”
Bush (con) đặt chân đến tòa bạch ốc cùng với các cố vấn của nhóm PNAC. Thời cơ, 11 tháng 09, đã giúp cho họ triễn khai kế hoạch be bờ Trung Cộng. Hồi giáo cực đoan sẻ là lý do cho sự triển khai này, một lý do chính đáng.
Công cụ hóa hồi giáo
Hoa Kỳ, vào năm 1979 sử dụng hồi giáo chống lại Liên Xô ở Afganistan, làm cho nó kiệt quệ và dẫn đến sự sụp đổ.
Năm 2001, Mỹ một lần nữa khai thác yếu tố hồi giáo để sử dụng vào mục đích chống kẻ thù Trung Cộng.
Phải chống lại liên minh Khổng Giáo và Hồi Giáo, điều mà Samuel Hungtington tiên đoán, đang diễn ra bằng những liên minh giữa TQ với các quốc gia dầu hỏa Irak, Iran, Arabie, và Trung Á.
Thế là cuộc chiến chống khủng bố được sử dụng như một cái cớ để tái phối trí các căn cứ quân sự bao vây TQ, đồng thời khởi động lại các dự án lá chắn chống hỏa tiễn.
Các hệ thống chống tên lửa chẳng có tác dụng tương xứng nào trong việc chống khủng bố. Trọng tâm của chương trình này là nhắm đối phó với những đầu đạn nguyên tử của TQ.
Học thuyết Bush, cũng là để khẳng định vai trò lãnh đạo độc tôn của Mỹ trên toàn cầu, nó cho phép Mỹ có thể chủ động tấn công trước với bất cứ đối tượng nào có ý định và tiềm năng gây tổn hại cho nền an ninh của Mỹ.
Để có được tính chính đáng và sự ủng hộ của dư luận cho một cuộc chiến với một quốc gia nào đó, thì chỉ cần một tấn công lớn hay nhỏ nào đó của đối phương là đủ. Lịch sử chứng minh việc đó :
- Năm 1898 : một tai nạn làm nổ chiến thuyền USS Maine trong hải cảng La Havane, ở Cuba đả đủ để Mỹ tuyên chiến với Tây Ban Nha.
- Năm 1915 : thưong thuyền Lusitania của Mỹ bị một tàu ngầm của Đức tấn công, đẩy Mỹ tham chiến vào đệ nhất thế chiến.
- Năm 1941 : Nhật tấn công Trân Châu Cảng, Mỹ tuyên chiến với Nhật
- Năm 1964 : Một tin thất thiệt cho rằng chiến thuyền của Mỹ bị tấn công trong vịnh Bắc Việt, Mỹ nhảy vào Việt Nam.
- Năm 1990 : Saddam Husein tiến chiếm Koweït, dẫn đến cuộc chiến vùng vịnh.
Để tái phối trí các căn cứ quân sự bao vây Trung Cộng từ Trung Á sang đến Đông Nam Á, và để kìm hảm Trung Quốc trong một tình trạng lệ thuộc về năng lượng, mà Mỹ đả khai thác tối đa lý do chống khủng bố và sử dụng con bài Bin Laden và Al-Qaeda, với các nhóm hồi giáo cực đoan. Một công mà hai việc, như vậy Mỹ có lý do chính đáng cho những hành động quân sự cũng như những chính sách can thiệp vào các nguồn dầu khí của các quốc gia hồi giáo.
Bản tường trình của bộ quốc phòng Mỹ năm 2005
Trong bản tường trình hàng năm, vào ngày 01 tháng 8 năm 2005, Ngũ giác đài đả kết luận rằng Trung Quốc là mối đe dọa nghiêm trọng nhất, về lâu dài, cho toàn bộ an ninh của nước Mỹ. Trung Quốc đang ở ngã ba đường, hoặc là nó chọn con đường hội nhập hòa bình với tư thế của một đối thủ không đáng kể (benign competitor), hoặc là nó chọn cách tạo ảnh hưởng trên một bình diện mỗi ngày một rộng hơn và sẻ phải nhận lãnh những sự trừng phạt cứng rắng. Donald Rumsfeld khi ấy gọi sự tăng cường khả năng quân sự và hải quân xa bờ của Trung Quốc là “sự khiêu khích đối với trật tự thế giới”…
Bàn tay của Mỹ trên dầu hỏa của Trung Cộng
Dầu hỏa là nguyên nhân chính của chiến tranh kinh tế và của chiến tranh, nói một cách ngắn gọn.
Trung Quốc nhập khẩu 50% lượng dầu tiêu thụ, trong khi các nguồn dự trử dầu của nó thì ngày một giảm dần. Năm 2020, lượng tiêu thụ của nó có thể sẻ tăng gấp đôi, sự lệ thuộc của nó vào nguồn nhập khẩu sẻ là 70%…hiện nay thì 2/3 nguồn nhập khẩu dầu của TQ là từ Trung Đông.
Ai nắm được nguồn dầu hỏa của TQ là nắm được Trung Quốc. Vì vậy Irak cần thiết cho việc lệ thuộc hóa TQ về năng lượng…Irak đã rơi vào tay Mỹ, còn lại là Iran và Soudan để hoàn tất việc kiểm soát các nguồn cung cấp năng lượng chính của TQ.
Và sau đây là cách mà Mỹ và Nga dàn sếp với nhau để giữ cho Bắc Kinh trong tình trạng bấp bên và lệ thuộc về năng lượng.
Dầu hỏa trong chiến tranh và những quan hệ quốc tế
Dầu hỏa là nguồn năng lượng cần thiết cho tất cả những nền kinh tế phát triển. Sự kiểm soát những nguồn dầu hỏa vì vậy là một việc trọng yếu về mặt kinh tế và chiến lượt. Đến nỗi mà có những khu vực trên thế giới, như Trung Đông, Trung Á, Tây Phi châu hay là Soudan, toàn bộ nền ngoại giao chỉ để phục vụ cho các quyền lợi của các tập đoàn dầu hỏa quốc tế.
…….. còn tiếp…..